Kat Dahlia

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Buớc tưới chuyển hướng Bước tới tìm kiếm
Kat Dahlia
Kat Dahlia for Complex Magazine.jpg
Kat Dahlia chụp cho Complex năm 2014
Thông tin nghệ sĩ
Tên khai sinhKatriana Sandra Huguet[1]
Nghệ danhKat Hue
Sinh29 tháng 7, 1990 (29 tuổi)[2]
Miami, Florida, Hoa Kỳ
Nguyên quánMiami Beach, Florida, Hoa Kì
Thể loại
Nghề nghiệp
Nhạc cụGiọng hát
Năm hoạt động2011–nay
Hãng đĩa
  • Vested in Culture
  • Epic
WebsiteOfficial website

Katriana Sandra Huguet (sinh ngày 29 tháng 7 năm 1990), được biết đến rộng rãi hơn với nghệ danh Kat Dahlia (trước đây là Kat Hue), là nghệ sĩ phòng thu người Mỹ gốc Cuba đến từ Miami, Florida. Dahlia nổi tiếng với lời nhạc "dao cạo sắc bén" và "flow độc đáo, mạnh mẽ" của cô.[3][4][5] Cô phát hành đĩa đơn ra mắt "Gangsta" vào tháng 4 năm 2013, để chống lại các lời phê bình. Dahlia phát hành album phòng thu đầu tay của cô My Garden vào tháng 1 năm 2015, với Vested in Culture và Epic Records khi cô đã ký hợp đồng thu âm với công ty vào năm 2012. Năm 2013, Dahlia đứng vị trí thứ 8 trong danh sách "Next Big Sound" của Billboard.[6]

Thời thơ ấu[sửa | sửa mã nguồn]

Kat Dahlia với tên khái sinh là Katriana Sandra Huguet sinh ra vào ngày 29 tháng 7 năm với mẹ là người Cuba và cha là người Leban-Cuba tại Miami Beach, Florida.[7] Cô bắt đầu rap khi chỉ mới 8 tuổi và tự viết lời khi mới 15, trích xuất nhạc cụ từ YouTube, thay cho một ban nhạc.[8] Ở tuổi 18, sau khi tiết kiệm tiền từ công việc làm bồi bàn, Dahlia quyết định rời Miami, và chuyển đến New York City một tháng sau đó "vì thích thế."[4][9] Sau đó, Dahlia đã tham gia vào những gì cô mô tả như là một "mối quan hệ tồi tệ" mà sau này cô sẽ coi đó là nguồn cảm hứng và là "tư liệu vàng."[10] Cô chọn cái tên Kat Dahlia làm nghệ danh sau khi nghe nhà sản xuất đề nghị và cô vẫn giữ nó vì nó dễ nghe và đẹp nhưng vẫn có bí ẩn trong đó.[11]

Sự nghiệp âm nhạc[sửa | sửa mã nguồn]

Sau khi tự chi tiền cho đĩa EP (EP) và một music video, Dahlia đã được Vested In Culture VP phát hiện bởi A&R Amanda Berkowitz. Berkowitz nhanh chóng mang đến cho Dahlia sự chú ý của giám đốc điều hành kỷ lục kỳ cựu Sylvia Rhone.[12] Năm 2012, Dahlia được mô tả là "có nhiều hơn là ca sĩ nhạc pop," Rhone đã kí hợp đồng và đưa cô đến công ty mới Vested in Culture (VIC) có liên doanh với Epic Records. Album ra mắt của Dahlia dự tính ra mắt vào năm 2014, trở thành sản phẩm âm nhạc được phát hành đầu tiên của VIC.[13][14][15]

Đĩa đơn đầu tay của Dahlia và video cho VIC, là ca khúc "Gangsta", được MTV gọi là "tràn ngập những cú đánh mạnh mẽ". Video được quay tại Miami, phản ánh những khó khăn của cuộc sống trước đây của cô.[16] Video được đạo diễn bởi Samantha Lecca[1] và được công chiếu qua Vevo vào ngày 5 tháng 3 năm 2013.[17] Cũng trong tháng ba, Dahlia được chọn là nghệ sĩ "Quan hệ âm nhạc" BET.[18] "Gangsta" được làm nhạc nền cho Buổi ra mắt mùa 16 của phim Law & Order: Special Victims Unit, Girls Disappeared vào ngày 24 tháng 9 năm 2014.

Dahlia phát hành 3 bài "Gangsta", "Money Party" và "Mirror" dưới dạng kĩ thuật số vào ngày 5 tháng 3 năm 2013. Ngày 17 tháng 12 năm 2013, cô phát hành ca khúc "Crazy" miễn phí trên trang web của mình. Bài hát ra mắt My Garden được phát hành ngày 15 tháng 1 năm 2015.[1] Album ra mắt tại vị trí thứ 54 trên bảng xếp hạng US Billboard 200. My Garden nhận được đánh giá tích cực từ các nhà phê bình âm nhạc. Theo Metacritic, album nhận được số điểm trung bình là 63 trên thang điểm chuẩn 100, cho biết "đánh giá chung album ổn", dựa trên bốn nhà phê bình.[19]

Kat Dahlia tung đĩa EP thứ ba mang tên 20s, 50s, 100s, thông qua SoundCloud vào ngày 9 tháng 5 năm 2016, gồm ba bài hát "Run It Up", "Voices in My Head" và "Lion".[20]

Ngày 21 tháng 7 năm 2017, Kat phát hành đĩa đơn "Body and Soul" trên tất cả các nền tảng nhạc số cũng như đăng tải lyric video lên kênh YouTube VEVO của cô.

Ngày 4 tháng 5 năm 2018, sau khi tạo ra For the Culture Playlist bao gồm đĩa đơn gần đây của Miguel "Come through and Chill," Salaam Remi quay trở lại với South Beach Social Club – một EP kết hợp với Kat Dahlia.

Nghệ sĩ[sửa | sửa mã nguồn]

Phong cách âm nhạc của Dahlia được miêu tả là lời như "dao cạo sắc bén" và flow độc đáo, mạnh mẽ của cô.[4][5] Dahlia chịu ảnh hưởng âm nhạc từ các nghệ sĩ BB King, Miles Davis, Led Zeppelin, The Doors, Bob Marley, Frank Sinatra, và Celia Cruz. Đồng thời, trong các cuộc phỏng vấn, Dahlia đã nhắc đến nghệ sĩ thu âm nhạc reggae huyền thoại Bob Marley đã tác động lớn đến phong cách âm nhạc của cô. Cô cho biết: "Tôi đã nghe rất nhiều nhạc của Bob Marley, đặc biệt là các bài hát dưới đây. Tôi đã từng đi đến Purdy Lounge vào tối thứ hai, ở đó luôn có các ban nhạc reggae. Reggae có ở khắp mọi nơi tại đó, dancehall ở khắp các hộp đêm. Họ không chỉ phát mỗi Hip Hop."[1]

Danh sách đĩa nhạc[sửa | sửa mã nguồn]

Album phòng thu[sửa | sửa mã nguồn]

Danh sách các album cùng thứ hạng trên BXH
Tên Chi tiết Thứ hạng cao nhất
US
My Garden
  • Ngày phát hành: 13 tháng 1 năm 2015
  • Hãng đĩa: Vested in Culture, Epic Records
  • Định dạng: CD, tải nhạc số
54
Naked Lady and a White Horse[21]
  • Ngày phát hành: Tháng 7 năm 2017
  • Hãng đĩa: Epic Records
  • Định dạng: CD, tải nhạc số
-

EP[sửa | sửa mã nguồn]

Danh sách đĩa EP với thông tin chi tiết album
Tên Chi tiết
South Beach Social Club Phát hành: 4 tháng 5 năm 2018
Shades of Gray[22]
(as Kat Hue)
  • Phát hành: ngày 29 tháng 2 năm 2012
  • Hãng đĩa: No Days Off Entertainment
  • Định dạng: tải nhạc số
20s, 50s, 100s[23]
  • Phát hành: 9 tháng 5 năm 2016[24]
  • Hãng thu: Tự túc
  • Định dạng: Download miễn phí

Mixtapes[sửa | sửa mã nguồn]

Danh sách đĩa mixtape và thông tin
Tên Chi tiết
Seeds[25]

Đĩa đơn[sửa | sửa mã nguồn]

Danh sách đĩa đơn là nghệ sĩ chính, với các thứ hạng trên BXH, hiển thị năm phát hành và tên album
Tên Năm Thứ hạng cao nhất Chứng nhận Album
US US
R&B/HH
Airplay
[27]
US Latin
Airplay

[28]
US
R&B/HH
[29]
US
Rhythm

[30]
US
Heat
US
R&B
"Gangsta"[31] 2013 112[32] 48 25 13[33] 13[34] My Garden
"Crazy"[35] 2014 45 40 26
"Money Party"[36]
(featuring Polly A.)
non-album single
"I Think I'm in Love"[37] 2015 My Garden
"Friday Night Majic" 2017 Naked Lady and a White Horse
"Sirens"
"Manipulator"
"Body and Soul"
"—" denotes a title that did not chart, was not released in that territory, or did not receive certification.

Xuất hiện khách mới[sửa | sửa mã nguồn]

List of non-single guest appearances, with other performing artists, showing year released and album name
Tên Năm Album Nghệ sĩ
"Lluvia Negra"[38] 2012 Puro Heny Puro
"Helen Keller"[39] 2013 Suffering from Success DJ Khaled
"Ain't Seen A Thing"[40] 2014 Hardships and Humiliation Decon Chrome
"Mash It Up"[41] 2015 Black Lion Reggae Invasion Vol. 1 Black Lion, The Wizard, Nyanda, The Kemist
"Warning"[42] 2017 Plata O Plomo Fat Joe, Remy Ma
"Save Me from the Rain"[43] 2017 Good Life Collie Buddz
Champions

| Common Kings, Kat Dhalia |}

Video âm nhạc[sửa | sửa mã nguồn]

Bài hát Năm Đạo diễn
"Devil's Command" 2013 Edwin Escobar
"Gangsta" Samantha Lecca
"Happy and I Know It" 2014 X Marlon Santini
"The High" Michael Garcia
"Crazy" Rankin
"My Garden" 2015 Michael Garcia
"I Think I'm In Love" Sam Lecca
"Run It Up" 2016 Monique Chavez [44]

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ a ă â b “Kat Dahlia Interview | "Gangsta" Singer Q&A”. LatinRapper.com. Truy cập ngày 18 tháng 7 năm 2017. 
  2. ^ “Kat Dahlia on Twitter: "Just found out The Black Dahlia (Elizabeth Short) and I have the same birthday #WTF!". Twitter. Truy cập ngày 18 tháng 7 năm 2017. 
  3. ^ “Kat Dahlia | News, Music Performances and Show Video Clips”. MTV. Truy cập ngày 18 tháng 7 năm 2017. 
  4. ^ a ă â "Kat Dahlia Talks Musical Beginnings and Working With Sylvia Rhone", Vibe, ngày 26 tháng 1 năm 2013. Truy cập ngày 3 tháng 3 năm 2013
  5. ^ a ă “Gangsta”. ngày 12 tháng 12 năm 2012. XXL. Truy cập ngày 14 tháng 3 năm 2013. 
  6. ^ “Kat Dahlia - Chart history”. Billboard. Billboard.com. Truy cập ngày 15 tháng 3 năm 2014. 
  7. ^ “Growing Up In Miami - Who Is Kat Dahlia?”. Complex.com. Truy cập ngày 18 tháng 7 năm 2017. 
  8. ^ Medina, Loren. “Introducing Kat Dahlia”. ngày 8 tháng 3 năm 2013. Corriete Latina. Bản gốc lưu trữ ngày 9 tháng 10 năm 2013. Truy cập ngày 14 tháng 3 năm 2013. 
  9. ^ “Kat Dahlia Interview With Vibe TV”. ngày 13 tháng 3 năm 2013. Huffington Post. Truy cập ngày 14 tháng 3 năm 2013. 
  10. ^ Gonzales, Nicole. “New Artist Kat Dahlia”. ngày 28 tháng 2 năm 2013. Latin Recap. Bản gốc lưu trữ ngày 23 tháng 3 năm 2013. Truy cập ngày 14 tháng 3 năm 2013. 
  11. ^ Lamarre, Carl (ngày 2 tháng 9 năm 2014). “Artist of the Week: Kat Dahlia”. Pepsi. 
  12. ^ “Kat Dahlia's Gangsta Video”. ngày 5 tháng 3 năm 2013. Broadway World. Truy cập ngày 14 tháng 3 năm 2013. 
  13. ^ Mitchell, Gail. “Sylvia Rhone Talks Vested In Culture”. ngày 5 tháng 2 năm 2013. Billboard. Truy cập ngày 14 tháng 3 năm 2013. 
  14. ^ Vena, Jocelyn (2013) "Kat Dahlia Is Prepping 'Swaggy' Follow-Up To 'Gangsta'", MTV, ngày 31 tháng 1 năm 2013. Truy cập ngày 3 tháng 3 năm 2013
  15. ^ “Sylvia Rhone Announces Joint Venture”. ngày 30 tháng 1 năm 2013. Hollywood Reporter. Truy cập ngày 14 tháng 3 năm 2013. 
  16. ^ “Buzzworthy”. ngày 5 tháng 3 năm 2013. MTV. Truy cập ngày 14 tháng 3 năm 2013. 
  17. ^ “Kat's Gangsta”. ngày 5 tháng 3 năm 2013. The 305. Truy cập ngày 14 tháng 3 năm 2013. 
  18. ^ “BET Music Matters”. ngày 3 tháng 3 năm 2013. BET. Truy cập ngày 14 tháng 3 năm 2013. 
  19. ^ “Reviews for My Garden by Kat Dahlia - Metacritic”. Metacritic.com. Truy cập ngày 2 tháng 2 năm 2015. 
  20. ^ “Loading”. Rnbxclusive.org. Truy cập ngày 18 tháng 7 năm 2017. 
  21. ^ http://www.billboard.com/articles/columns/pop/7801294/kat-dhalia-friday-night-magic-video
  22. ^ “Archived copy”. Bản gốc lưu trữ ngày 8 tháng 1 năm 2015. Truy cập ngày 2 tháng 12 năm 2014. 
  23. ^ Darville, Jordan (ngày 10 tháng 6 năm 2016). “Wake Up With Kat Dahlia In The Dreamy "Run It Up" Video”. The Fader. Truy cập ngày 18 tháng 7 năm 2017. 
  24. ^ “Kat Dahlia - 20s, 50s, 100s [Stream/ Listen]”. Fundrom.com. Ngày 9 tháng 5 năm 2016. Truy cập ngày 18 tháng 7 năm 2017. 
  25. ^ “Kat Dahlia To Release 5 Song EP "Seeds". Epic.com. Bản gốc lưu trữ ngày 21 tháng 9 năm 2013. 
  26. ^ “New Mixtape: Kat Dahlia – 'Seeds'. Rap-Up. Ngày 21 tháng 11 năm 2013. Truy cập ngày 18 tháng 7 năm 2017. 
  27. ^ “Kat Dahlia - Chart history”. Billboard. Ngày 18 tháng 5 năm 2013. Truy cập ngày 18 tháng 7 năm 2017. 
  28. ^ “Kat Dahlia - Chart history”. Billboard. Ngày 26 tháng 7 năm 2014. Truy cập ngày 18 tháng 7 năm 2017. 
  29. ^ “Kat Dahlia - Chart history”. Billboard. Ngày 1 tháng 6 năm 2013. Truy cập ngày 18 tháng 7 năm 2017. 
  30. ^ “Kat Dahlia - Chart history”. Billboard. Truy cập ngày 18 tháng 7 năm 2017. 
  31. ^ “Kat Dahlia - Gangsta”. Amazon.com. 
  32. ^ [1][liên kết hỏng]
  33. ^ [2][liên kết hỏng]
  34. ^ [3][liên kết hỏng]
  35. ^ “Crazy - Single by Kat Dahlia on Apple Music”. Itunes.apple.com. Truy cập ngày 18 tháng 7 năm 2017. 
  36. ^ “Money Party (feat. Polly a.) - Single by Kat Dahlia on Apple Music”. Itunes.apple.com. Truy cập ngày 18 tháng 7 năm 2017. 
  37. ^ “Through Kat's Eyes • Listen to Kat Dahlia's New Single "I Think I'm In”. Katdahlia.tumblr.com. Ngày 13 tháng 2 năm 2015. Truy cập ngày 18 tháng 7 năm 2017. 
  38. ^ “Mixtape Not Found”. Datpiff.com. Truy cập ngày 18 tháng 7 năm 2017. 
  39. ^ David Jeffries (ngày 22 tháng 10 năm 2013). “Suffering from Success - DJ Khaled | Songs, Reviews, Credits”. AllMusic. Truy cập ngày 18 tháng 7 năm 2017. 
  40. ^ DaykoN. “Decon Chrome - Ain't Seen A Thing Ft Kat Dahlia”. SoundCloud. 
  41. ^ “Black Lion Reggae Invasion, Vol. 1 by Various Artists on Apple Music”. Itunes.apple.com. Truy cập ngày 18 tháng 7 năm 2017. 
  42. ^ Neil Z. Yeung (ngày 10 tháng 2 năm 2017). “Plata o Plomo - Fat Joe,Remy Ma | Songs, Reviews, Credits”. AllMusic. Truy cập ngày 18 tháng 7 năm 2017. 
  43. ^ “Save Me From The Rain (feat. Kat Dahlia), by Collie Buddz”. Collie Buddz. Truy cập ngày 17 tháng 7 năm 2018. 
  44. ^ Huynh, Davis. “Kat Dahlia Sets Thirst Traps in Latest Video Run It Up”. Hypetrak.com. Truy cập ngày 18 tháng 7 năm 2017. 

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]