Lý Thanh

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm

Lý Thanh (chữ Hán: 李清, 16021683) [1], tên tự là Tâm Thủy, hiệu là Ánh Bích, người huyện Hưng Hóa, phủ Dương Châu, Nam Trực Lệ [2], quan viên cuối đời Minh, tiếp tục phục vụ nhà Nam Minh. Sau khi Nam Kinh thất thủ, ông quay về quê nhà, ẩn cư cho đến hết đời, lấy việc trước tác văn – sử làm vui, để lại một khối lượng tác phẩm đồ sộ, nhưng phần lớn bị nhà Thanh xếp vào nhóm Cấm thư.

Sự nghiệp chánh trị[sửa | sửa mã nguồn]

Thời Sùng Trinh[sửa | sửa mã nguồn]

Thanh là cháu trực hệ 5 đời của Đại học sĩ Lý Xuân Phương thời Minh Thế Tông, cháu nội của Lễ bộ thượng thư Lý Tư Thành đời Minh Hy Tông.

Năm Thiên Khải đầu tiên (1621), Thanh trúng Cử nhân. Năm Sùng Trinh thứ 4 (1631), Thanh trúng tiến sĩ, được thụ Ninh Ba phủ thôi quan. Nhờ kết quả khảo xét đứng đầu, Thanh được cất nhắc làm Hình khoa cấp sự trung; cùng ngày hôm ấy, ông dâng 2 sớ: Một nói đối với người Mãn Châu thì nên vừa đánh vừa giữ, không nên khinh suất mà cầu hòa; lại nói đối với khởi nghĩa nông dân thì nên vừa đánh vừa dụ, không nên chỉ dụ mà thôi. Hai nói việc xử án không nên xét lỗi quan viên gặp tội nặng phán nhẹ, mà chỉ nên xét lỗi gặp tội nhẹ phán nặng, lại tố cáo thượng thư Lưu Chi Phượng không xứng chức trách. Ít lâu sau gặp dịp hạn hán, Thanh dâng sớ nói thiên tai là do việc dùng hình khắc nghiệt trong khi tra án, lời này trái ý hoàng đế nên ông bị giáng chức, điều làm Chiết Giang Bố chánh tư Chiếu ma, nhưng gặp tang sự nên phải quay về nhà. Sau đó Thanh được khởi dùng làm Lại khoa cấp sự trung [3]. Thanh ghét thói tranh giành địa vị, dâng sớ nói kháy triều thần không quan tâm biên phòng, nhưng hoàng đế không trả lời [4].

Thời Hoằng Quang[sửa | sửa mã nguồn]

Bắc Kinh thất thủ, Phúc vương Chu Do Tung lên ngôi ở Nam Kinh, là Hoằng Quang đế, Thanh được thăng làm Công khoa đô cấp sự trung. Triều chánh Nam Minh ngày càng hỏng, quan lại vẫn quen thói chia bè cánh để tranh đấu, lại thêm tâm lý an phận ở miền nam, Thanh nhiều lần dâng sớ cảnh tỉnh, nhưng hoàng đế chỉ trả lời là biết rồi.

Triều thần đặt miếu hiệu cho Sùng Trinh đế là Tư Tông, Thanh nói miếu hiệu này tương đồng với thụy hiệu của Thục Hán hậu chủ, xin đổi đi; lại xin bổ sung thụy hiệu cho Thái tử Chu Từ Lãng và hai vương Chu Từ Quýnh, Chu Từ Chiếu cùng các công thần thời Khai quốc, thời Tĩnh nan và các bề tôi liều chết can gián các thời Vũ TôngHy Tông. Có người chê bai là viễn vông, Thanh biện bác rằng việc này sẽ khích lệ những người trung nghĩa, vì vậy triều đình đặt thụy cho bọn Lý Thiện Trường 14 người, bọn Lục Chấn 14 người, bọn Tả Quang Đấu 9 người.

Sau đó Thanh được thăng làm Đại Lý tự tả tự thừa; ông nhận lệnh đi cúng tế Nam Trấn [5], nhưng vừa đến Hàng Châu thì Nam Kinh thất thủ. Thanh bèn đi tắt lánh ở Tùng Giang, rồi vượt Trường Giang ngụ tại Cao Bưu, mãi mới quay về quê nhà, đóng cửa không hỏi việc đời. Thanh nhiều lần được tiến cử nhưng không nhận lời, ẩn cư 38 năm thì mất.

Thanh rất đỗi trung thành với nhà Minh. Khi Sùng Trinh đế băng, Thanh ở Dương Châu, nghe tin thì kêu khóc không dứt. Mỗi năm vào ngày 19 tháng 3 ÂL, Thanh đều bày bài vị để khóc, thường nói: “Nhà tôi đời đời chịu ơn nước, tôi làm lại ở ngoài, nhờ tiên đế cất nhắc, chưa làm gì để báo.” Sau khi mất nước, Thanh khư khư giữ tấm lòng ấy, đến chết không thay đổi.

Sự nghiệp văn sử[sửa | sửa mã nguồn]

Thanh phụng sự 2 triều, cả thảy 3 lần giữ chức Gián quan, chương tấu trước sau vài mươi bản, đến nay đều không còn. Trong nhiều năm ẩn cư, Thanh lấy việc soạn sách làm vui, rất chú tâm vào sử học, trước tác rất nhiều tác phẩm sử luận, như Nam bắc sử hợp sao (南北史合抄; hiện nay lưu hành dưới cái tên Nam bắc sử hợp chú (南北史合注), xem tại đây), Chiết ngục tân ngữ (折狱新语, xem tại đây), Tam viên bút ký (三垣笔记, xem tại đây), Nam độ lục (南渡录, xem tại đây).

Học giả Vương Trọng Dân đã đưa ra danh mục sáng tác của Thanh, gồm 15 tác phẩm.[6] Trương Hiểu Chi mở rộng khảo cứu, bổ sung 14 tác phẩm vào danh mục nói trên:[7]

Danh mục tác phẩm do Vương Trọng Dân khảo cứu[sửa | sửa mã nguồn]

  1. Nam bắc sử hợp chú
  2. Nam Đường thư hợp đính
  3. Chư sử đồng dị
  4. Lịch đại bất tri tính danh lục
  5. Minh sử tạp trước
  6. Nam độ lục
  7. Tam viên bút kí
  8. Giáp ất biên niên lục
  9. Viên đốc sư trảm Mao Văn Long thủy mạt
  10. Sử lược chánh ngộ
  11. Chư trung kỷ lược
  12. Nữ thế thuyết
  13. Gián viên sớ thảo
  14. Tứ hoàn sớ
  15. Đạm Ninh trai văn tập

Trong này chỉ có Viên đốc sư trảm Mao Văn Long thủy mạt, Sử lược chánh ngộ, Chư trung kỷ lược, Nữ thế thuyết, Đạm Ninh trai văn tập không bị nhà Thanh cấm đoán.

Danh mục tác phẩm do Trương Hiểu Chi bổ sung[sửa | sửa mã nguồn]

  1. Nam độ kỷ sự
  2. Chư sử dị hối
  3. Chiết ngục tân ngữ
  4. Lý Ánh Bích công dư lục
  5. Hạc linh lục
  6. Đào Ngột nhàn bình
  7. Quỷ mẫu truyện
  8. Ngoại sử tân kỳ
  9. Lý ninh lục
  10. Giáp thân nhật ký
  11. Tam viên tấu sớ
  12. Cấp cổ các quan thư ký
  13. Đắc toàn đường dạ yên ký bạt
  14. Chánh sử tân kỳ

Trong số này có thêm Nam độ kỷ sự, Chư sử dị hối, Giáp thân nhật ký, Tam viên tấu sớ bị nhà Thanh cấm đoán.

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  • Thanh sử cảo quyển 500, liệt truyện 287 – Di dật truyện 1: Lý Thanh
  • Minh sử quyển 193, liệt truyện đệ 81 – Lý Xuân Phương truyện

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Xem trang 209 của Âu Dương Kiện – Minh Thanh tiểu thuyết tân khả, Nhà xuất bản Trung Quốc Văn Liên, 1992, ISBN 750590356X hay ISBN 9787505903562, 434 trang
  2. ^ Nay là huyện cấp thị Hưng Hóa, địa cấp thị Thái Châu, Giang Tô
  3. ^ Thanh sử cảo, tlđd chép rằng tờ sớ này xúc phạm thượng thư Chân Thục, nên Thục hặc Lý Thanh tội lạm quyền, khiến ông chịu giáng chức; ít lâu sau Thục mất chức (nguyên văn: bại), Thanh được khởi dùng. Minh sử, tlđd chép rằng tờ sớ này trái ý hoàng đế (nguyên văn: ngỗ chỉ), khiến Thanh chịu giáng chức, nhưng ông chưa đến nhận chức thì có tang nên phải về nhà (nguyên văn: ưu quy). Chân Thục không truyện riêng trong chính sử, nhưng tiểu sử được ghi chép trong nhiều sử liệu địa phương, không nhắc gì đến việc Thục “bại”. Người viết dựa theo Minh sử, tlđd
  4. ^ Thanh sử cảo, tlđd chép nguyên văn là “môn hộ” (nghĩa bóng là bè đảng hay địa vị), lời sớ như sau: “Môn hộ (nghĩa đen là cửa ngõ) của nước nhà có hai: chìa khóa của cửa bắc, lấy Tam Hiệp (tức là Ninh Hạ, Cam Túc, Kế Châu) làm Môn hộ; then chốt của bồi kinh (tức Nam Kinh), lấy Lưỡng Hoài làm Môn hộ. Sắp đặt những nơi này thì không hỏi, mà ầm ĩ triều đường để ngấm ngầm tranh đấu (nguyên văn: hống <gây huyên náo> đường <tức là triều đường> chước <đào, đẵn> huyệt <hang>), kéo dài thế này sao được?”
  5. ^ Các triều đình Trung Quốc đời xưa tiến hành cúng tế danh sơn, bao gồm Ngũ nhạc và Ngũ trấn. Theo Chu lễ (do Trịnh Huyền chú giải), ban đầu chỉ có Ngũ nhạc và Tứ trấn. Tứ trấn bao gồm Đông trấn Nghi Sơn (nay là Lâm Nghi, Sơn Đông), Nam trấn Hội Kê Sơn (nay là Thiệu Hưng, Chiết Giang) Tây trấn Hoắc Sơn (tức Hoắc Thái Sơn, nay là Hoắc Châu, Sơn Tây), Bắc trấn Y Vu Lư Sơn (nay là Bắc Trấn, Liêu Ninh). Về sau Hán Tuyên đế đổi phong Hoắc Sơn làm Trung trấn, lấy Ngô Sơn (nay là Bảo Kê, Thiểm Tây) làm Tây trấn
  6. ^ Bài viết Vương Trọng Dân (王重民) – Lý Thanh trước thuật khảo (李清着述考) lần đầu được đăng trên Đồ Thư quán Học quý san kỳ 3, quyển 2, năm 1928, sau đó được đưa vào Vương Trọng Dân – Lãnh lư văn tẩu (冷庐文薮), Nhà xuất bản Thượng Hải cổ tịch, tháng 12 năm 1992, ISBN 9787532512126, 953 trang
  7. ^ Bài viết Trương Hiểu Chi – Lý Thanh trước thuật bổ khảo (李清著述补考) được đăng lần đầu trên Bản Khoa học xã hội thuộc Học báo Đại học Giao thông Tây nam, kỳ 19 ÷ 25 năm 2010, tổng cộng 7 trang; được đưa lên website Thái Châu ký ức (rwtz.t56.net) ngày 08 tháng 12 năm 2013, xem tại đây), truy cập ngày 26 tháng 6 năm 2016. Trương Hiểu Chi (张晓芝, 1956 –), là nữ thạc sĩ, giảng viên đại học, hiện công tác tại viện Pháp học thuộc đại học Tây Bắc. Bài viết ở đây được xuất bản khi bà còn công tác tại viện Văn học thuộc Đại học Tây Nam