Mô hình tổng cầu và tổng cung

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Jump to navigation Jump to search

Mô hình tổng cầu và tổng cung hay còn gọi là mô hình AD-AS là mô hình dùng để giải thích hai biến số.

Biến số thứ nhất là tổng sản lượng hàng hóa và dịch vụ được đo bằng GDP thực tế. Biến số thứ hai là mức giá được đo bằng chỉ số giá tiêu dùng CPI hay chỉ số điều chỉnh GDP.

Tổng cầu của nền kinh tế[sửa | sửa mã nguồn]

Khái niệm[sửa | sửa mã nguồn]

Tổng cầu là lượng hàng hóadịch vụ được tạo ra trên lãnh thổ một nước(GDP) mà các tác nhân kinh tế sẵn sàng và có khả năng mua tại mỗi mức giá.

Trong nền kinh tế mở thì tổng cầu bao gồm 4 nhân tố:

Phương trình[sửa | sửa mã nguồn]

Phương trình đường tổng cầu trong một nền kinh tế mở có dạng: AD = C + I + G + NX

Đường tổng cầu[sửa | sửa mã nguồn]

Đường tổng cầu(AD)

Độ dốc của đường tổng cầu[sửa | sửa mã nguồn]

Đường tổng cầu dốc xuống. Được giải thích bởi ảnh hưởng của giá đối với tiêu dùng, đầu tư, xuất khẩu ròng:

Kết luận: Cả ba hiệu ứng này đã cho thấy mối quan hệ ngược chiều giữa giásản lượng hàng hóa. Hay: đường tổng cầu dốc xuống.

Đường tổng cầu dịch chuyển[sửa | sửa mã nguồn]

Đường tổng cầu sẽ dịch chuyển khi có sự thay đổi khi có sự thay đổi của các yếu tố cấu thành tổng cầu là C, I, G và NX.

Tổng cung của nền kinh tế[sửa | sửa mã nguồn]

Khái niệm[sửa | sửa mã nguồn]

Tổng cung là lượng hàng hóadịch vụ được cung ứng trên thị trường. Nó thể hiện mối quan hệ giữa mức giá chung và khối lượng hàng hóa được cung ứng.

Tổng cung dài hạn - ASLR[sửa | sửa mã nguồn]

Đường tổng cung dài hạn

Sự dịch chuyển của đường tổng cung dài hạn: đường tổng cung dài hạn dịch chuyển khi có sự thay đổi của những yếu tố sau

  • Lao đông
  • Tư bản
  • Tài nguyên
  • Công nghệ

Tổng cung ngắn hạn - ASSR[sửa | sửa mã nguồn]

  • Đường tổng cung ngắn hạn dốc lên.
  • Phương trình cơ bản về đường tổng cung gắn hạn: Y = + α (P - Pe)
    • Y: sản lượng
    • : sản lượng tự nhiên
    • α: số dương
    • Pe: mức giá kỳ vọng
    • P: giá thực tế
  • Kết luận rút ra từ phương trình:
  • Một số mô hình giải thích về đường tổng cung ngắn hạn dốc lên:
    • Mô hình tiền lương cứng nhắc: Tiền lương danh nghĩa thường cứng nhắc và chậm thay đổi hơn so với giá là do hợp đồng lao động, vì vậy khi giá sản phẩm tăng nhưng lương công nhân chưa tăng, doanh nghiệp được lợi nên sản xuất nhiều hơn. Kết luận: Giá tăng làm sản lượng tăng. Đường cung ngắn hạn dốc lên
    • Mô hình nhận thức sai lầm: Khi mức giá chung tăng doanh nghiệp dễ tưởng rằng hàng hoá, dịch vụ của mình cũng tăng nên cung ứng nhiều hơn. Kết luận: Giá tăng thì sản lượng tăng. Đường cung ngắn hạn dốc lên.
    • Mô hình giá cả cứng nhắc: Khi mức giá chung tăng nhưng Chi phí thực đơn quá lớn nên doanh nghiệp trì hoãn tăng giá, giá bán của doanh nghiệp thấp hơn nên bán được nhiều hơn. Kết luận: Giá bán tăng, cung ứng tăng. Đường cung ngắn hạn dốc lên.
Cân bằng tổng cung-tổng cầu

Các cú sốc và giải pháp của chính phủ[sửa | sửa mã nguồn]

Cú sốc cầu[sửa | sửa mã nguồn]

Cú sốc cầu tiêu cực trong ngắn hạn khi giá P giảm, sản lượng Y giảm (gọi là suy thoái kinh tế). Do đó đường tổng cầu AD dịch trái. Chính phủ sẽ tăng chi tiêu G hoặc giảm thuế T để khắc phục tình trạng. Tăng chi tiêu chính phủ G có hiệu quả nhanh hơn giảm thuế T.

Cú sốc cầu tiêu cực trong dài hạn sau khi suy thoái kinh tế dẫn đến thất nghiệp tăng, doanh nghiệp giảm lương công nhân do lao động cần việc tăng nên chi phí sản xuất giảm, doanh nghiệp tăng sản lượng làm tổng cung tăng. Do đó đường tổng cung dịch phải về với mức sản lượng tự nhiên. Kết luận: Giá P giảm, sản lượng Y không đổi trong điều kiện chính phủ không can thiệp.

Cú sốc cung[sửa | sửa mã nguồn]

Cú sốc cung khi đường cung dịch trái làm giá tăng đồng thời sản lượng giảm (tức là vừa lạm phát vừa suy thoái kinh tế), lúc này chính phủ đối mặt ok

hai lựa chọn không mong muốn. Giảm sản lượng (suy thoái hơn) để bình ổn giá hoặc tăng giá (lạm phát hơn) để khôi phục sản lượng.

Xem thêm[sửa | sửa mã nguồn]

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  • Bài giảng kinh tế vĩ mô 2-PGS.TS Nguyễn Văn Công-Nhà xuất bản Lao động 2006