Mỵ Ê

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm

Mỵ Ê (媚醯) là Vương phi[1] của Chiêm Thành vào thế kỷ 11. Bà là vợ của Quốc vương Chiêm Thành Sạ Đẩu (乍斗; tức Jaya Sinhavarman II).

Vào năm 1044, Lý Thái Tông của Đại Cồ Việt tiến đánh Chiêm Thành, trong khi đó triều chính Chiêm có sự bội phản, tướng Chiêm là Quách Gia Dĩ (郭加彛) đã chém chết chúa Sạ Đẩu rồi đầu hàng. Quân Đại Cồ Việt chiếm được thành Phật Thệ, bắt hàng trăm cung nữ, ca kỹ và nhạc công mang về, trong đó có cả Mỵ Ê. Đến Lý Nhân, Thái Tông sai quan trung sứ triệu bà sang hầu thì Mỵ Ê lấy chiên trắng quấn quanh mình rồi nhảy xuống sông Châu Giang mà chết.

Tương truyền những buổi sáng sớm sương mù và đêm trăng thường nghe thấy có tiếng than ai oán ở khúc sông đó. Người dân bèn lập đền thờ cúng. Về sau vua Lý phong bà là Hiệp Chính Hựu Thiện phu nhân (協正佑善夫人). Đời Trần Trùng Hưng lại gia phong cho bà là Trinh Liệt Tá Lý phu nhân (貞烈佐履夫人) để biểu dương cái tiết đoan trinh của bà.

Tuy nhiên, hiện nay, do qua quá nhiều giai đoạn lịch sử, không xác định được cụ thể ngôi đền này nằm tại vị trí nào dọc sông Châu Giang.

Trong văn học[sửa | sửa mã nguồn]

Nhà thơ Tản Đà có làm bài thơ Tâm sự nàng Mỵ Ê nói về bà:

Châu giang một giải sông dài,
Thuyền ai than thở, một người cung phi!
Đồ Bàn thành phá hủy,
Ngọa Phật tháp thiên di.
Thành tan, tháp đổ
Chàng tử biệt,
Thiếp sinh ly.
Sinh ký đau lòng kẻ tử quy!
Sóng bạc ngàn trùng
Âm dương cách trở
Chiên hồng một tấm,
Phu thê xướng tùy.
Ôi mây! Ôi nước! Ôi trời!
Đũa ngọc, mâm vàng, giọt lụy rơi.
Nước sông trong đục,
Lệ thiếp đầy vơi
Bể bể, dâu dâu, khóc nỗi đời!
Trời ơi! Nước hỡi! Mây hời!
Nước chảy, mây bay, trời ở lại,
Để thiếp theo chồng mấy dặm khơi!...

Ngoài ra còn có rất nhiều tác phẩm khác của các nhà thơ như Lê Thánh Tông, Nguyễn Nhược Pháp, Lý Đông A...

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]

Ghi chú[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Đại Việt Sử ký Toàn thư