Michael Collins (phi hành gia)

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Buớc tưới chuyển hướng Bước tới tìm kiếm
Michael Collins
Michael Collins (S69-31742, restoration).jpg
Collins tháng 4 năm 1969
Chức vụ
Nhiệm kỳ6 tháng 1 năm 1970 – 11 tháng 4 năm 1971
Tiền nhiệmDixon Donnelley
Kế nhiệmCarol Laise
Michael Collins (phi hành gia)
Phi hành gia NASA
Quốc tịch {{{nationality}}}
Hiện trạng Nghỉ hưu (1982)
Sinh
Thời gian trên không gian 11 ngày, 2 giờ, 04 phút, 43 giây
Chọn 1963 NASA Group 3
Phi vụ Gemini 10, Apollo 11
Huy hiệu
công vụ
Gemini 10 logo Apollo 11 logo
Hưu Tháng 1 năm 1970
Thông tin chung
Quốc tịchMỹ
Sinh31 tháng 10, 1930 (89 tuổi)
Rome, Italia
Nghề nghiệpPhi công thử nghiệm
Gia quyến
Gia đìnhJames Collins
Con cáiKate Collins
Học sinh trườngHọc viện quân sự Hoa Kỳ, cử nhân 1952
Chữ kýMichael Collins Signature.svg
Binh nghiệp
Phục vụ Hoa Kỳ
ThuộcKhông lực Hoa Kỳ
Năm tại ngũ
  • 1952–1970 (hoạt động)
  • 1970–1982 (dự bị)
Cấp bậcUS-O8 insignia.svg Thiếu tướng

Michael Collins (sinh ngày 31 tháng 10 năm 1930[1]) là một cựu người Mỹ phi hành gia đã bay lịch sử Apollo 11 mô-đun chỉ huy Columbia quanh Mặt trăng trong khi các đồng đội của anh ta, Neil ArmstrongBuzz Aldrin, đã hạ cánh phi hành đoàn đầu tiên trên bề mặt. Ông là phi công thử nghiệmthiếu tướng trong Quân dự bị Không quân Hoa Kỳ.

Được chọn là một phần của NASA nhóm thứ ba trong số mười bốn phi hành gia vào năm 1963, Collins đã bay trong không gian hai lần. Chuyến bay vũ trụ đầu tiên của anh là vào Gemini 10 vào năm 1966, trong đó anh và Chỉ huy phi công John Young đã thực hiện điểm hẹn trên quỹ đạo với hai tàu vũ trụ khác nhau và thực hiện hai hoạt động ngoài vũ trụ (EVA, còn được gọi là không gian vũ trụ). Trong nhiệm vụ năm 1969 Apollo 11, anh trở thành một trong 24 người bay lên Mặt trăng, mà anh đã quay quanh ba mươi lần. Anh ta là người thứ tư (và người Mỹ thứ ba) để thực hiện không gian vũ trụ, người đầu tiên đã thực hiện nhiều hơn một phi thuyền, và sau Young, người đã điều khiển lệnh mô-đun trên Apollo 10, người thứ hai quay quanh Mặt trăng một mình.

Trước khi trở thành phi hành gia, Collins đã tốt nghiệp Học viện quân sự Hoa Kỳ với lớp 1952. Ông gia nhập Không quân Hoa Kỳ, và bay F-86 của Bắc Mỹ Máy bay chiến đấu Saber Căn cứ không quân Chambley-Bussières, Pháp. Anh được nhận vào Hoa Kỳ Trường thí điểm thử nghiệm bay thử nghiệm của Không quân tại Căn cứ không quân Edwards năm 1960.

Sau khi nghỉ hưu từ NASA vào năm 1970, Collins đã nhận một công việc trong Bộ Ngoại giao với tư cách là Trợ lý Bộ trưởng Ngoại giao Hoa Kỳ. Một năm sau, ông trở thành giám đốc của Bảo tàng Hàng không và Không gian Quốc gia, và giữ vị trí này cho đến năm 1978, khi ông từ chức để trở thành người dưới quyền của Viện Smithsonian. Năm 1980, ông nhận chức phó chủ tịch của LTV Aerospace. Ông đã từ chức năm 1985 để bắt đầu công ty tư vấn của riêng mình. Cùng với các đồng đội Apollo 11 của mình, Collins đã được trao Huân chương Tự do của Tổng thống năm 1969 và Huy chương Vàng của Quốc hội vào năm 2011.

Thời trẻ[sửa | sửa mã nguồn]

Bảng kỷ niệm ở Rome đánh dấu nơi sinh Collins Collins

Collins sinh ngày 31 tháng 10 năm 1930 tại Rome, Ý.[1][2] Anh là con trai thứ hai của James Lawton Collins,[3] sĩ quan chuyên nghiệp Lục quân Hoa Kỳ, người là Hoa Kỳ tùy viên quân sự ở đó từ năm 1928 đến 1932, và Virginia nhũ danh Stewart.[4] Collins had an older brother, James Lawton Collins Jr.,[5][6] và hai chị gái, Virginia và Agnes. Trong 17 năm đầu đời, Collins sống ở nhiều nơi khi Quân đội đưa cha đến những địa điểm khác nhau.: Rome; Oklahoma; Governors Island, New York; Fort Hoyle (gần Baltimore, Maryland); Fort Hayes (gần Columbus, Ohio); Puerto Rico; San Antonio, Texas; và Alexandria, Virginia.[3] Anh đã đi máy bay đầu tiên ở Puerto Rico trên chiếc Grumman Widgeon; Phi công cho phép anh ta bay nó trong một phần của chuyến bay. Anh muốn bay lần nữa, nhưng vì Thế chiến II bắt đầu ngay sau đó, anh không thể.[7] Collins học hai năm trong Academia del Perpetuo SocorroSan Juan, Puerto Rico.[8]

Sau khi Hoa Kỳ bước vào Thế chiến II, gia đình chuyển đến Washington, D.C., nơi Collins tham dự St. Trường Albans và tốt nghiệp năm 1948.[9][3] His mother wanted him to enter the diplomatic service,[3] nhưng anh quyết định theo cha, hai người chú, anh và em họ vào các dịch vụ vũ trang. Anh nhận được một cuộc hẹn với Học viện quân sự Hoa Kỳ tại West Point, từ đó cha anh và anh trai anh đã tốt nghiệp vào năm 1907 và 1939.[6] Anh tốt nghiệp vào ngày 3 tháng 6 năm 1952, với bằng Cử nhân Khoa học về khoa học quân sự,[10] hoàn thành thứ 185 trong số 527 học viên trong lớp, bao gồm cả phi hành gia tương lai Ed White.[3][11]

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ a ă “Michael Collins”. Astronaut Scholarship Foundation. Bản gốc lưu trữ ngày 28 tháng 2 năm 2018. Truy cập ngày 1 tháng 3 năm 2018.  Đã bỏ qua tham số không rõ |df= (trợ giúp); Đã bỏ qua tham số không rõ |url-status= (trợ giúp)
  2. ^ “Astronaut Fact Book” (PDF). NASA. Tháng 4 năm 2013. Bản gốc (PDF) lưu trữ ngày 29 tháng 8 năm 2017. Truy cập ngày 18 tháng 4 năm 2018.  Đã bỏ qua tham số không rõ |url-status= (trợ giúp); Đã bỏ qua tham số không rõ |df= (trợ giúp)
  3. ^ a ă â b c Hansen 2005, tr. 344–345.
  4. ^ Cullum 1940, tr. 197.
  5. ^ Barnes, Bart (ngày 12 tháng 5 năm 2002). “James Collins Jr., 84; General, Military Historian”. Los Angeles Times. Bản gốc lưu trữ ngày 28 tháng 8 năm 2015. Truy cập ngày 5 tháng 10 năm 2018.  Đã bỏ qua tham số không rõ |url-status= (trợ giúp); Đã bỏ qua tham số không rõ |df= (trợ giúp)
  6. ^ a ă Cullum 1950, tr. 986.
  7. ^ Collins 1994, tr. 12.
  8. ^ San Juan's Young King Who Climbed to the Moon. 1969 Congressional Record, Vol. 115, Pages H25639-H25640 (ngày 16 tháng 9 năm 1969). Truy cập ngày 26 tháng 11 năm 2015.
  9. ^ Bonner, Alice (ngày 10 tháng 5 năm 1977). “Ferdinand Ruge, St. Albans English Master, Dies”. The Washington Post. Bản gốc lưu trữ ngày 30 tháng 4 năm 2018. Truy cập ngày 11 tháng 4 năm 2018.  Đã bỏ qua tham số không rõ |url-status= (trợ giúp); Đã bỏ qua tham số không rõ |df= (trợ giúp)
  10. ^ Chaikin 2007, tr. 599.
  11. ^ Cullum 1960, tr. 605.