NATO ném bom Nam Tư

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Buớc tưới chuyển hướng Bước tới tìm kiếm
NATO ném bom Nam Tư
Một phần của Chiến tranh Kosovo
Нато бомбе изазивале еколошку катастрофу у Новом Саду.jpeg
Novi Sad, Nam Tư Vụ hỏa hoạn Tòa nhà năm 1999.
.
Thời gian 24 tháng 3 - 10 tháng 6 năm 1999 (78 ngày)[1]
Địa điểm Nam Tư[2]
Kết quả NATO chiến thắng[3]
Thay đổi lãnh thổ UN Resolution 1244; de facto separation of Kosovo from Yugoslavia under United Nations temporary administration
Tham chiến
 NATO  Nam Tư
Chỉ huy
NATO Wesley Clark (SACEUR)
NATO Rupert Smith
NATO Javier Solana

Hoa Kỳ Gen. John W. Hendrix[9]
Hoa Kỳ James O. Ellis[10]

Slobodan Milošević
Dragoljub Ojdanić
Nebojša Pavković
Lực lượng
NATO Over 1,031 aircraft[11][12]

NATO 30 attack ships and submarines[13]
Hoa Kỳ Task Force Hawk

114,000 regulars
20,000 Yugoslav policemen
100 SAM launchers
14 modern combat aircraft[14]
1,400 artillery pieces
1,270 combat capable tanks
825 combat capable armoured vehicles[13]
Tổn thất
NATO 3 fighter jets, 2 helicopters and 25 UAVs destroyed; 3 fighter jets damaged
NATO 2 soldiers killed in non-combat helicopter crash, 3 soldiers captured
956–1,200 killed, 5,173 wounded and 52 missing
disputed numbers of tanks, APCs, and artillery pieces; as well as 121 aircraft destroyed
Economic loss of $29.6 billion[15]
Human Rights Watch concluded that between 489 and 528 people died as a result of air attacks, nearly 60% of whom were in Kosovo.[16] The Yugoslav government gave estimates of between 1,200 and 5,700 civilian deaths.[16]

Trung Quốc 3 công dân Trung Quốc thiệt mạng tại NATO ném bom đại sứ quán của Trung Quốc tại Belgrade

.

Bản mẫu:Campaignbox Kosovo War

NATO ném bom Nam Tư là hoạt động quân sự của NATO chống lại Cộng hòa Liên bang Nam Tư (FRY) trong Chiến tranh Kosovo. Các cuộc không kích kéo dài từ ngày 24 tháng 3 năm 1999 đến ngày 10 tháng 6 năm 1999. Tên mã hoạt động chính thức của NATO là Chiến dịch Đồng minh Lực lượng; Hoa Kỳ gọi nó là "Chiến dịch Noble Anvil", trong khi ở Nam Tư, hoạt động không chính xác được gọi là "Thiên thần thương xót" (tiếng Serbia: Милосрдни анђео / Milosrdni anđeo), là kết quả của một sự hiểu lầm hay sai lầm.[17] Các vụ đánh bom tiếp tục cho đến khi một thỏa thuận đạt được dẫn đến việc rút quân đội Nam Tư khỏi Kosovo, và thành lập Sứ mệnh Hành chính lâm thời Liên Hợp Quốc tại Kosovo (UNMIK), một nhiệm vụ gìn giữ hòa bình của Liên Hợp Quốc tại Kosovo.

Cuộc tẩy chay dân tộc, đổ máu của hàng ngàn người Albania đã đưa họ đến các nước láng giềng, và tiềm năng của nó làm mất ổn định khu vực đã gây ra sự can thiệp của các tổ chức và cơ quan quốc tế như Liên hợp quốc, NATO và INGO.[18][19] Các nước NATO đã cố gắng để có được sự cho phép của Hội đồng Bảo an Liên Hợp Quốc về hành động quân sự, nhưng bị phản đối bởi Trung Quốc và Nga cho thấy họ sẽ phủ quyết một đề xuất như vậy. NATO đã đưa ra một chiến dịch mà không có sự cho phép của LHQ, mà nó được mô tả như một can thiệp nhân đạo. FRY mô tả chiến dịch của NATO là một cuộc chiến tranh xâm lược bất hợp pháp chống lại một quốc gia có chủ quyền vi phạm luật pháp quốc tế bởi vì nó không có sự hỗ trợ của Hội đồng Bảo an Liên Hiệp Quốc.

Vụ đánh bom đã giết chết giữa 489 và 528 thường dân, và các cây cầu bị phá hủy, các nhà máy công nghiệp, các tòa nhà công cộng, các doanh nghiệp tư nhân, cũng như các doanh trại và các cơ sở quân sự.

Vụ đánh bom của NATO đánh dấu chiến dịch lớn thứ hai trong lịch sử của nó, sau chiến dịch ném bom NATO năm 1995 ở Bosnia và Herzegovina. Đây là lần đầu tiên NATO sử dụng lực lượng quân sự mà không có sự chấp thuận của Hội đồng Bảo an Liên Hợp Quốc.[20]

Bối cảnh[sửa | sửa mã nguồn]

Sau tháng 9 năm 1990 khi Hiến pháp Nam Tư năm 1974 bị Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Serbia bãi bỏ, quyền tự chủ của Kosovo bị ảnh hưởng và do đó khu vực phải đối mặt với sự đàn áp của nhà nước: từ đầu những năm 1990, đài phát thanh và truyền hình tiếng Albania bị hạn chế và báo chí bị đóng cửa. Người AlbaniaKosovo đã bị sa thải với số lượng lớn từ các doanh nghiệp và tổ chức công, bao gồm ngân hàng, bệnh viện, bưu điện và trường học. Vào tháng 6 năm 1991, Đại hội Priština và một số hội đồng giảng viên đã được giải thể và thay thế bởi Serbs. Giáo viên Kosovar Albania đã bị ngăn không cho vào trường trong năm học mới bắt đầu vào tháng 9 năm 1991, buộc học sinh phải học ở nhà.

Sau đó, những người Albania của Kosovo bắt đầu nổi dậy chống lại Belgrade khi Quân đội Giải phóng Kosovo được thành lập vào năm 1996. Cuộc xung đột vũ trang giữa hai bên nổ ra vào đầu năm 1998. Một thỏa thuận ngừng bắn do NATO tạo ra đã được ký vào ngày 15 tháng 10, nhưng cả hai bên đã phá vỡ nó hai tháng sau và chiến đấu tiếp tục. Khi giết chết 45 người Albania của Kosovar trong vụ thảm sát Račak được báo cáo vào tháng 1 năm 1999, NATO quyết định rằng cuộc xung đột chỉ có thể được giải quyết bằng cách giới thiệu một lực lượng gìn giữ hòa bình quân sự để buộc phải kiềm chế hai bên. Sau khi Hiệp định Rambouillet tan rã vào ngày 23 tháng 3 với việc Nam Tư từ chối một lực lượng gìn giữ hòa bình bên ngoài, NATO đã chuẩn bị để cài đặt lực lượng gìn giữ hòa bình bằng vũ lực.

Những mục tiêu[sửa | sửa mã nguồn]

Mục tiêu của NATO trong cuộc xung đột Kosovo đã được nêu tại cuộc họp Hội đồng Bắc Đại Tây Dương được tổ chức tại trụ sở NATO tại Brussels ngày 12 tháng 4 năm 1999:[21]

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Lỗi chú thích: Thẻ <ref> sai; không có nội dung trong thẻ ref có tên nato
  2. ^ Lỗi chú thích: Thẻ <ref> sai; không có nội dung trong thẻ ref có tên cnn
  3. ^ References:
    • Stigler, Andrew L. "A clear victory for air power: NATO's empty threat to invade Kosovo." International Security 27.3 (2003): 124-157.
    • Biddle, Stephen. "The new way of war? Debating the Kosovo model." (2002): 138-144.
    • Dixon, Paul. "Victory by spin? Britain, the US and the propaganda war over Kosovo." Civil Wars 6.4 (2003): 83-106.
    • Harvey, Frank P. "Getting NATO's success in Kosovo right: The theory and logic of counter-coercion." Conflict Management and Peace Science 23.2 (2006): 139-158.
  4. ^ Parenti (2000), pp. 198
  5. ^ “Serbia marks another anniversary of NATO attacks - English - on B92.net”. Bản gốc lưu trữ ngày 10 tháng 9 năm 2016. Truy cập ngày 29 tháng 4 năm 2017. 
  6. ^ Zunes, Stephen (6 tháng 7 năm 2009). “The US War on Yugoslavia: Ten Years Later”. Bản gốc lưu trữ ngày 31 tháng 8 năm 2017. Truy cập ngày 16 tháng 4 năm 2018. 
  7. ^ Lỗi chú thích: Thẻ <ref> sai; không có nội dung trong thẻ ref có tên Norske jagerfly på vingene i går
  8. ^ Lỗi chú thích: Thẻ <ref> sai; không có nội dung trong thẻ ref có tên Turkish Air Force
  9. ^ Lỗi chú thích: Thẻ <ref> sai; không có nội dung trong thẻ ref có tên Task Force Hawk
  10. ^ Lỗi chú thích: Thẻ <ref> sai; không có nội dung trong thẻ ref có tên Operation Allied Force - Operation Allied Force in Kosovo
  11. ^ Lỗi chú thích: Thẻ <ref> sai; không có nội dung trong thẻ ref có tên globalsecurity
  12. ^ Lỗi chú thích: Thẻ <ref> sai; không có nội dung trong thẻ ref có tên Kosovo operation allied force after-action report
  13. ^ a ă Lỗi chú thích: Thẻ <ref> sai; không có nội dung trong thẻ ref có tên GroupedRef4
  14. ^ NATOs AirWar for kosovo, Benjamin S. Lambert
  15. ^ Seven years since end of NATO bombing Lưu trữ September 26, 2015, tại Wayback Machine., 2006. "A group of economists from the G17 Plus party has estimated the total damages to be about 29.6 billion dollars". Retrieved September 18, 2015.
  16. ^ a ă Lỗi chú thích: Thẻ <ref> sai; không có nội dung trong thẻ ref có tên hrw.org
  17. ^ RTS: Порекло имена "Милосрдни анђео" (On the origin of the name "Merciful Angel") Lưu trữ November 2, 2012, tại Wayback Machine., March 26, 2009 (tiếng Serbia)
  18. ^ Jordan, Robert S. (2001). International organizations: A comparative approach to the management of cooperation. Greenwood Publishing Group. tr. 129. ISBN 9780275965495. 
  19. ^ Yoshihara, Susan Fink (2006). “Kosovo”. Trong Reveron, Derek S.; Murer, Jeffrey Stevenson. Flashpoints in the War on Terrorism. Routledge. tr. 67–68. ISBN 9781135449315. 
  20. ^ “15 years on: Looking back at NATO's 'humanitarian' bombing of Yugoslavia — RT News”. www.rt.com. 24 tháng 3 năm 2004. Bản gốc lưu trữ ngày 3 tháng 12 năm 2016. Truy cập ngày 26 tháng 10 năm 2016.  Đã bỏ qua tham số không rõ |df= (trợ giúp)
  21. ^ Lỗi chú thích: Thẻ <ref> sai; không có nội dung trong thẻ ref có tên NATO_situation