Ordovic giữa

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Buớc tưới chuyển hướng Bước tới tìm kiếm

Ordovic giữa hay Ordovic trung là tên gọi của một thống hay thế địa chất. Nó là thống ở giữa trong địa thời học của kỷ Ordovic trên Trái Đất. Thống này kéo dài từ khoảng 471,8±1,6 tới 460,9±1,6 triệu năm trước (Ma). Thống hay thế Ordovic giữa nằm ngay trên tầng Flo của thống/thế Ordovic sớm và nằm ngay dưới tầng Sandby của thống/thế Ordovic muộn cùng kỷ.

Phân chia[sửa | sửa mã nguồn]

Theo truyền thống, Ordovic giữa được phân chia thành các tầng Llanvirn và Llandielo nhưng sự phân chia này đã bị thay thế thành 2 tầng mới hơn gọi là tầng Đại Bìnhtầng Darriwil.

Hiện tại, vào năm 2008, thống Ordovic giữa được ICS chia thành 2 tầng từ trẻ nhất tới cổ nhất như sau:

Tên gọi và GSSP[sửa | sửa mã nguồn]

Các GSSP đã xác định trong thống Ordovic giữa là:

Định nghĩa[sửa | sửa mã nguồn]

Giới hạn dưới của tầng Đại Bình (cũng là giới hạn dưới của thống) là sự xuất hiện lần đầu tiên của động vật răng nón có danh pháp Baltoniodus triangularis. Giới hạn trên của tầng Darriwil với tầng Sandby là trước sự xuất hiện lần đầu tiên của loài bút thạch có danh pháp Nemagraptus gracilis.

Sự sống[sửa | sửa mã nguồn]

Trong thời kỳ này các biển nông và ấm che phủ phần lớn phần đất liền, và vì thế nó là quê hương của sự sống đại dương khá đa dạng. Bắc Mỹ khi đó nằm ở ven đường xích đạo, trong khi đó siêu lục địa phía nam cực là Gondwana bao gồm không chỉ Nam Mỹ, châu Phi, Ấn Độ, châu Nam CựcAustralia, mà cả Nam Âu.

Các cộng đồng bọ ba thùy (Trilobita) thống trị trong Tiền Ordovic được thay thế bằng các hệ sinh thái hỗn hợp hơn, trong đó động vật chân mang (Brachiopoda), động vật hình rêu (Bryozoa), động vật thân mềm (Mollusca) và động vật da gai (Echinodermata) tất cả đều thịnh vượng, san hô vách đáy (Tabulata) đa dạng hóa và san hô bốn tia (Rugosa) đã xuất hiện; bọ ba thùy không còn chiếm ưu thế như trước. Các dạng bút thạch (Graptolithina) phù du vẫn tiếp tục đa dạng, với Diplograptina đã xuất hiện. Xói mòn sinh học trở thành một tiến trình quan trọng, cụ thể là trong các lớp vỏ calcit dày của san hô, động vật hình rêu và động vật chân mang (tay cuộn), và trên các mặt cứng cacbonat hóa rộng lớn dưới đáy biển đã xuất hiện trong thời kỳ này.

Động vật có xương sống sớm nhất đã biết trong nhóm cá không hàm (Agnatha) là cá giáp (nhóm Ostracodermi) trong chi Arandaspis, có niên đại vào khoảng Trung Ordovic tại Australia.

Tài liệu[sửa | sửa mã nguồn]

  • Felix Gradstein, Jim Ogg và Alan Smith: A Geologic timescale. Nhà in Đại học Cambridge, 2004 ISBN 9780521786737.
  • E. E. Mitchell, Xu Chen, Stig. M. Bergstroem, Yuan-dong Zhang, Zhi-hao Wang, B. D. Webby và S. C. Finney: Definition of a global stratotype for the Darriwilian Stage of the Ordovician System. Episodes, 20(3): 158-166, Bắc Kinh, 1997 ISSN 0705-3797.
  • Xiaofeng Wang, Svend Stouge, Bernd-D. Erdtmann, Xiaohong Chen, Zhihong Li, Chuanshang Wang, Qingluan Zeng, Zhiqiang Zhou và Huiming Chen: A proposed GSSP for the base of the Middle Ordovician Series: the Huanghuachang section, Yichang, China. Episodes, 28(2): 105-116, Bắc Kinh, 2005 pdf file ISSN 0705-3797
  • S. M. Bergström, S. C. Finney, Xu Chen, C. Pålsson, Zhi-lao Wang và Y. Grahn: A proposed global boundary stratotype for the base of the Upper Series of the Ordovician System: The Fågelsång section, Scania, southern Sweden. Episodes. 23(3): 102-109, Bắc Kinh, 2000 ISSN 0705-3797.

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]

Kỷ Ordovic
Ordovic sớm/hạ Ordovic giữa Ordovic muộn/thượng
Tremadoc | Flo Đại Bình | Darriwil Sandby | Katy | Hirnant