Động vật thân mềm

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Động vật thân mềm
Thời điểm hóa thạch: Kỷ Ediacara hoặc kỷ Cambri - gần đây
Caribbean reef squid.jpg
Mực Sepioteuthis sepioidea
Phân loại khoa học
Giới (regnum) Animalia
Phân giới (subregnum)

Eumetazoa

(không phân hạng) Bilateria
(không phân hạng) Nephrozoa
(không phân hạng) Protostomia
(không phân hạng) Spiralia
Liên ngành (superphylum) Lophotrochozoa
Ngành (phylum) Mollusca
Linnaeus, 1758
Tính đa dạng
85,000 recognized living species
Các lớp
Một số loài ốc nón (Limpet)

Ngành Thân mềm (còn gọi là nhuyễn thể hay thân nhuyễn) là một ngành trong phân loại sinh học có các đặc điểm như cơ thể mềm, có thể có vỏ đá vôi che chở và nâng đỡ, tùy lối sống mà vỏ và cấu tạo cơ thể có thể thay đổi.

Ngành Thân mềm có nhiều chủng loại rất đa dạng, phong phú và là nhóm động vật biển lớn nhất chiếm khoảng 23% tổng số các sinh vật biển đã được đặt tên. Trong các khu vực nhiệt đới, bao gồm Việt Nam, ngành này có hơn 90 nghìn loài hiện hữu, trong đó có các loài như trai, , ốc, hến, ngao, mực, bạch tuộc. Chúng phân bố ở các môi trường như biển, sông, suối, ao, hồ và nước lợ. Một số sống trên cạn. Một số nhỏ chuyển qua lối sống chui rúc, đục ruỗng các vỏ gỗ của tàu thuyền như con hà. Có có độ đa dạng cao, không chỉ về kích thước mà còn về cấu trúc giải phẫu học, bên cạnh sự đa dạng về ứng xử và môi trường sống. Ngành này được chia thành 9 hoặc 10 lớp, trong đó 2 lớp tuyệt chủng hoàn toàn. Cephalopoda như mực, cuttlefishbạch tuộc là các nhóm có thần kinh cao cấp trong tất cả các loài động vật không xương sống, và mực khổng lồ hay mực ống khổng lồ là những loài động vật không xương sống lớn nhất đã được biết đến. Động vật chân bụng (ốc sênốc) là nhóm có số loài nhiều nhất đã được phân loại, chúng chiếm khoảng 80% trong tổng số loài động vật thân mềm. Nghiên cứu khoa học về động vật thân mềm được gọi là nhuyễn thể học.[1]

Phân loại[sửa | sửa mã nguồn]

Bảng phân loại này gồm có 8 lớp thân mềm hiện hữu và 2 lớp đã tuyệt chủng.

Lớp Hình thái đặc trưng Số loài hiện hữu Distribution
Caudofoveata Những loài thân mềm dạng giun (Các loài thuộc nhóm này không có chân và cũng không có rãnh bụng. Tất cả các loài đều có một lưỡi sừng và một đôi mang lược, sống hoan toàn ở biển vùi mình trong đáy bùn) 120 200 đến 3.000m dưới đáy biển
Aplacophora (Không vỏ) solenogasters, những loài thân mềm dạng giun 200 200 đến 3.000m dưới đáy biển
Polyplacophora (Nhiều tấm vỏ) Ốc song kinh (chitons) 1,000 vùng đá thuỷ triều và đáy biển
Monoplacophora (Vỏ một tấm) dạng ốc nón (limpet-like) 31 1.800 đến 7.000m dưới đáy biển, có loài ở độ sâu 200m
Gastropoda (Chân bụng) bào ngư, ốc nón (limpet), ốc xà cừ (conch), sên biển, thỏ biển, bướm biển, ốc sên, ốc nước ngọt, sên trần 70,000 biển, nước ngọt, trên cạn
Cephalopoda (Chân đầu) mực ống, bạch tuộc, mực nang, ốc anh vũ 900 biển
Bivalvia (Vỏ 2 tấm) hến, hàu, , trai 20,000 biển, nước ngọt
Scaphopoda ốc ngà voi 500 sống ở biển độ sâu từ 6m đến 7.000m
Rostroconchia hoá thạch; dạng vỏ 2 tấm đã tuyệt chủng biển
Helcionelloida hoá thạch; dạng ốc (snail-like) đã tuyệt chủng biển

Đa dạng[sửa | sửa mã nguồn]

About 80% of all known mollusc species are gastropods (snails and slugs), including this cowry (a sea snail).[2]

Ước tính số loài còn sống đã miêu tả được chấp nhận trong nhóm động vật thân mềm dao động từ 50.000 đến tối đa 120.000 .[3] Năm 1969 David Nicol đưa ra con số phỏng đoán 107.000 trong đó có khoảng 12.000 loài chân bụng nước ngọt và 35.000 loài trên cạn. Động vật hai mảnh vỏ (Bivalvia) có thể chiếm khoảng 14% tổng số và 5 nhóm khác chiếm ít hơn 2% trong số các loài molusca còn sinh tồn.[4] Năm 2009, Chapman ước tính số loài còn sinh tồn đã được miêu tả là 85.000.[3] Haszprunar năm 2001 ước tính khoảng 93.000  loài đã được đặt tên,[5] trong đó gồm 23% các loài ở biển đã được đặt tên.[6] Mollusca là nhóm xếp thứ 2 sau arthropoda (chân khờp) về số lượng loài còn sinh tồn[2]—chúng cách rất xa so với arthropoda là 1.113.000, nhưng dẫn trước chordata với 52.000.[7] Có khoảng 200.000 loài còn sinh tồn theo ước tính trên tổng số,[3][8] and 70,000 fossil species,[9] mặc dù số loài tổng cộng của mollusca đã từng tồn tại, hoặc không được bảo tồn phải lớn hơn nhiều so với số lượng còn sinh tồn ngày nay.[10]

Mollusca có nhiều dạng hơn so với bất kỳ nhóm nào khác trong ngành động vật. Chúng bao gồm ốc sên, ốc và các loài động vật chân bụng; clam và các loài bivalve khác; mực và các loài cephalopoda khác; và các loài ít được biết đến hơn nhưng là nhưng phân nhóm riêng biệt có tính tương đồng. Phần lớn các loài vẫn sống trong các đại dương, từ vùng ven bờ đến vùng biển thẳm, nhưng một số là thành phần quan trọng trong các hệ sinh thái nước ngọt và trên cạn. Mollusca cực kỳ đa dạng trong các vùng nhiệt đới và ôn đới, nhưng củng có thể được tìm thấy ở tất cả các vĩ độ.[11] Khoảng 80% trong số các loài mollusca đã được biết đến là động vật chân bụng.[2] Cephalopoda như mực, bạch tuộc là những động vật có hệ thần kinh tiến bộ nhất trong nhóm các loài động vật không xương sống.[12] Mực khổng lồ, cho đến gần đây đã không được quan sát còn sinh tồn ở dạng cá thể trưởng thành,[13] là một trong những động vật không xương sống lớn nhất, nhưng mẫu vật được bắt gần đây của loài Mesonychoteuthis hamiltoni dài 10m và nặng 500 kg có thể đã vượt qua loài mực khổng lồ.[14]

Molusca nước ngọt và trên đất liền thuộc nhóm dễ bị tổn thương. Những ước tính về số loài mollusca không sống trong biển thì nằm trong một khoảng rộng, một phần là do nhiều khu vực không được khảo sát kỹ lưỡng. Ngoài ra còn có sự thiếu hụt các chuyên gia có thể xác định tất cả các loài động vật trong bất kỳ một khu vực đến cấp loài. Tuy nhiên, năm 2004 Sách đỏ IUCN về các loài bị đe dọa bao gồm gần 2.000 loài mollusca sống trong môi trường nước ngọt và đất liền bị đe dọa. Để so sánh, phần lớn các loài mollusca sống trong biển, nhưng chỉ có 41 trong số này có mặt trong Sách Đỏ năm 2004. Khoảng 42% các loài đã tuyệt chủng được ghi nhận từ năm 1500 là mollusca, bao gồm gần như toàn bộ các loài không sống trong biển.[15]

Hình ảnh[sửa | sửa mã nguồn]

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Little, L., Fowler, H.W., Coulson, J., and Onions, C.T. biên tập (1964). “Malacology”. Shorter Oxford English Dictionary. Oxford University press. 
  2. ^ a ă â edited by Winston F. Ponder, David R. Lindberg. (2008). Trong Ponder, W.F. and Lindberg, D.R. Phylogeny and Evolution of the Mollusca. Berkeley: University of California Press. tr. 481. ISBN 978-0-520-25092-5. 
  3. ^ a ă â Chapman, A.D. (2009). Numbers of Living Species in Australia and the World, 2nd edition. Australian Biological Resources Study, Canberra. Accessed 12 January 2010. ISBN 978-0-642-56860-1 (printed); ISBN 978-0-642-56861-8 (online).
  4. ^ David Nicol (1969), The Number of Living Species of Molluscs; Systematic Zoology, Vol. 18, No. 2 (Jun., 1969), pp. 251-254
  5. ^ Lỗi chú thích: Thẻ <ref> sai; không có nội dung trong thẻ ref có tên Haszprunar2001MolluscsInEncOfLifeSci
  6. ^ Rebecca Hancock (2008). “Recognising research on molluscs”. Australian Museum. Truy cập ngày 9 tháng 3 năm 2009. 
  7. ^ Ruppert, E.E., Fox, R.S., and Barnes, R.D. (2004). Invertebrate Zoology (ấn bản 7). Brooks / Cole. tr. Front endpaper 1. ISBN 0-03-025982-7. 
  8. ^ Winston F. Ponder and David R. Lindberg (2004). “Phylogeny of the Molluscs”. World Congress of Malacology. Truy cập ngày 9 tháng 3 năm 2009. 
  9. ^ Lỗi chú thích: Thẻ <ref> sai; không có nội dung trong thẻ ref có tên BruscaBrusca2003P702
  10. ^ David M. Raup & Steven M. Stanley (1978). Principles of Paleontology (ấn bản 2). W.H. Freeman and Co. tr. 4–5. ISBN 0716700220. 
  11. ^ Lỗi chú thích: Thẻ <ref> sai; không có nội dung trong thẻ ref có tên GiribetOkusuEtAlMolluscsWithSeriallyRepeatedStructures
  12. ^ Barnes, R.S.K., Calow, P., Olive, P.J.W., Golding, D.W. and Spicer, J.I. (2001). The Invertebrates, A Synthesis (ấn bản 3). UK: Blackwell Science. 
  13. ^ Kubodera, T. and Mori, K. (2005). “First-ever observations of a live giant squid in the wild”. Proceedings of the Royal Society B 272 (1581): 2583–2586. doi:10.1098/rspb.2005.3158. PMC 1559985. PMID 16321779. Truy cập ngày 22 tháng 10 năm 2008. 
  14. ^ Richard Black (26 tháng 4 năm 2008). “Colossal squid out of the freezer”. BBC News. Truy cập ngày 1 tháng 10 năm 2008. 
  15. ^ Lydeard, C.; R. Cowie, R., Ponder, W.F., et al (tháng 4 năm 2004). “The global decline of nonmarine mollusks”. BioScience 54 (4): 321–330. doi:10.1641/0006-3568(2004)054[0321:TGDONM]2.0.CO;2. Truy cập ngày 20 tháng 10 năm 2009. 

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

Phương tiện liên quan tới Mollusca tại Wikimedia Commons