Tàu ngầm lớp Oyashio

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
(đổi hướng từ Oyashio (lớp tàu ngầm))
Bước tới: menu, tìm kiếm
Japanese Submarine Oyashio SS590.JPEG
The SS590 Oyashio
Khái quát về lớp tàu
Tên gọi: Oyashio (おやしお, Cold Current)
Xưởng đóng tàu: Kawasaki Shipbuilding Corporation, Mitsubishi Heavy Industries
Bên sử dụng: Naval Ensign of Japan.svg Lực lượng Phòng vệ Biển (Nhật Bản)
Lớp trước: Tàu ngầm lớp Harushio
Lớp sau: Tàu ngầm lớp Sōryū
Thời gian đóng: 1994 - 2008
Thời gian hoạt động: 1998 - Nay
Dự tính: 11
Hoàn tất: 11
Còn hoạt động: 11
Đặc điểm khái quát
Kiểu: Tàu ngầm
Trọng tải choán nước:
  • 2.750 tấn khi nổi
  • 4.000 tấn khi lặn
Độ dài: 81,7 m
Sườn ngang: 8,9 m
Mớn nước: 7,4 m
Động cơ đẩy:
  • Điện-Diesel
  • 2 động cơ diesel Kawasaki 12V25S
  • 2 máy phát điện Kawasaki
  • 2 mô tơ Toshiba
  • 3.400 hp (2.500 kW) khi nổi
  • 7.750 hp (5.780 kW) khi lặn
Tốc độ:
Thủy thủ đoàn
đầy đủ:
70 (10 hoa tiêu)
Hệ thống cảm biến
và xử lý:
Cảm biến sóng âm: Hệ thống cảm biến sóng âm Hughes/Oki ZQQ 5B/6 gắn trên thân tàu và sườn tàu, 1 hệ thống định vị thủy âm nối cáp.
Radar: Hệ thống radar JRC ZPS 6 I.
Vũ trang: 6 ống phóng ngư lôi HU-605 533 mm với 20 ngư lôi loại ngư lôi Kiểu 89 và ngư lôi UGM-84 Harpoon

Tàu ngầm lớp Oyashio (tiếng Nhật: おやしお) là một lớp tàu ngầm tấn công chạy bằng động cơ điện-diesel do Nhật Bản tự phát triển và được đưa vào biên chế Lực lượng phòng vệ trên biển Nhật Bản (JMSDF) kể từ năm 1998 đến nay.

Thiết kế[sửa | sửa mã nguồn]

Do hạn chế từ sau Chiến tranh thế giới thứ 2, Nhật Bản không được phép sở hữu vũ khí hạt nhân. Do vậy, Nhật Bản cũng không có kế hoạch đóng các tàu ngầm hạt nhân, tuy nhiên việc trang bị cho lực lượng tàu ngầm các tàu chạy bằng diesel lại được phát triển một cách linh hoạt. Tàu ngầm lớp Oyashio được phát triển trên nền tảng tàu ngầm lớp Harushio. Nó lớn hơn loại tàu ngầm lớp Harushio để có chỗ cho hệ thống định vị thủy âm đặt bên sườn. Quá trình nghiên cứu, đóng mới các tàu ngầm thuộc lớp Oyashio được thực hiện bởi Kawasaki Heavy Industries và Mitsubishi Heavy Industries. Đã có 11 chiếc thuộc lớp này được hạ thủy và đi vào hoạt động trong giai đoạn 1994 - 2006.

Tàu ngầm lớp Oyashio vốn được thiết kế để chống tàu ngầm và tàu mặt nước, rải thùy lôi, quét ngư lôi, làm nhiệm vụ tuần tra và trinh sát, bảo vệ các căn cứ hải quân, những tuyến đường biển...Lớp tàu ngầm này vận hành rất tốt trong vùng biển nông, có khả năng di chuyển ở gần khu vực đáy biển hơn các loại tàu ngầm tấn công khác.

Tàu được tích hợp thiết kế thân tàu dạng lá cuốn với kiểu giọt nước ở thiết kế trước đây của JMSDF, boong tàu dạng thẳng, khác với các tàu thế hệ trước có đặc điểm tròn hoặc hình thuôn. Tàu có cánh lái ở đuôi tàu dạng chữ thập và một trục chân vịt đơn lớn để làm giảm sức cản khi di chuyển trong lòng biển. Thân tàu làm bằng loại thép cường độ cao và ít nhiễm từ, cho phép lặn nhiều lần tới độ sâu tối đa khi cần thiết. Ngoài ra, việc sử dụng thép cường độ cao cũng giúp làm giảm được trọng lượng của vỏ tàu chịu áp lực, cho phép chở được nhiều nhiên liệu và vũ khí hơn. 

Toàn bộ phần thân tàu được chia thành 8 khoang kín nước. Các khoang được ngăn cách bởi vách ngăn bên trong lớp vỏ kép có tác dụng điều hoà áp suất, tăng khả năng sống sót cho tàu lên rất nhiều, thậm chí với một khoang và hai két liền kề bị ngập nước, tàu vẫn có khà năng hoạt động bình thường. Bên trong tàu rất chật hẹp vì không gian xung quanh có vô vàn thiết bị. Dọc theo thành tàu là cơ man hệ thống đường ống thủy lực và khí với rất nhiều van, đồng hồ. Khi di chuyển từ khoang này sang khoang kia là thông qua các cửa tròn, các phòng rất nhỏ từ bếp đến cabin ngủ, có thể nhận ra rằng tiện nghi trong tàu ngầm là rất khó. Mọi thứ phải phù hợp với không gian hạn chế. Hệ thống chì huy và hệ thống điều khiển hoả lực được bố trí trong phòng điều khiển chính, phòng này tách biệt với các khoang khác.

Các tàu ngầm thuộc lớp Oyashio được trang bị hệ thống điều hòa không khí để duy trì độ ẩm và nhiệt độ ở mức phù hợp trong các khoang, tạo điều kiện thuận lợi cho công tác của thủy thủ đoàn. Ngoài ra tàu còn được trang bị hệ thống lọc và tái tạo không khí, cung cấp lượng oxy đầy đủ, đồng thời hấp thụ lượng khí Cacbonic, các khí độc khác có hại cho cơ thể con người.

Để giảm bớt dấu hiệu bộc lộ âm thanh, các cửa xả nước được bố trí cách xa phần thân tàu phía mũi và vỏ tàu được phủ một lớp ngói bảo vệ bằng cao su để hấp thu sóng âm, làm giảm thiểu và chệch tín hiệu dội lại của thiết bị dò tìm đối phương. Lớp vỏ này cũng làm giảm tiếng ồn do tàu ngầm phát ra, do đó làm giảm khoảng cách bị phát hiện bởi sona thụ động của đối phương. Đuôi tàu có lớp che phủ bên ngoài hấp thụ âm thanh. Động cơ của tàu cũng được đặt cách ly trên bệ đỡ cao su và không chạm vào thân tàu, làm giảm rung động và triệt tiêu tiếng ồn. Vì thế, Oyashio được xem là một trong những lớp tàu ngầm ít gây tiếng ồn nhất khu vực châu Á.

Để có thể luôn sẵn sàng chiến đấu cho sự sống còn và cứu hộ thuyền viên của tàu, trong các khoang đầu tiên, thứ hai và thứ sáu là các khoang sinh tồn, chứa bè và thiết bị thông tin liên lạc. Trong trường hợp xảy ra tai nạn, thuỷ thủ đoàn có thể rời khỏi tàu ngầm, mặc bộ quần áo lặn và dụng cụ thở rồi đi qua các cửa khoan để đến lối thoát hiểm hoặc buồng giảm áp . Thuỷ thủ cũng có thể thoát ra khỏi tàu thông qua ống phóng ngư lôi ở khoang thứ nhất. Mỗi khoang (trong trường hợp xảy ra tai nạn có thể được đóng kín) luôn có dự trữ thực phẩm và nước cho các pin không khí tái sinh. Trong trường hợp xảy ra cháy nổ, ngay lập tức người ta phải ngăn chặn các phản ứng đốt cháy, trong đó có việc sử dụng hệ thống hoá chất bảo vệ như phun khí trơ (Freon). Hệ thống này có thể dập lửa nhưng nó có thể gây chết người nếu không cẩn thận.

Tàu ngầm lớp Oyashio có chiều dài 82 m, chiều rộng 8.9 m, độ mớn nước 7.4 m, lượng giãn nước là 2,750 tấn (tiêu chuẩn) và 4,000 tấn (khi lặn). Tàu có độ sâu hoạt động khoảng 240 m và độ sâu lặn tối đa 300 m, cho phép thuyền trưởng tự do hơn về chiến thuật so với mức độ vẫn có trước đó trên các tàu ngầm thông thường. Tàu không hạn chế về thời gian khi lặn sâu ở mức tối đa. Tàu có thể hoạt động liên tục 240 ngày trên biển trong một năm. Tàu được trang bị hệ thống xử lý thông tin tình báo chiến đấu thông minh cùng hệ thống tự động cao nên thủy thủ đoàn chỉ cần 70 người (gồm 10 sĩ quan) để vận hành.[1] [2] [3][4] [5] [6]

Không gian sinh hoạt của thủy thủ đoàn[sửa | sửa mã nguồn]

Điều kiện sống trên các tàu ngầm lớp Oyashio khắc nghiệt và khó khăn hơn nhiều so với các tàu chiến khác thuộc JMSDF. Bên trong tàu ngầm lớp Oyashio, không gian sống, trang thiết bị, ánh sáng, nơi nghỉ ngơi, ăn uống, công tác đảm bảo y tế vô cùng hạn chế. Lịch trình làm việc của mỗi thủy thủ sẽ kéo dài trong khoảng 18 giờ và chia thành 3 ca. Cuộc sống kéo dài trong 18 tiếng và không tiếp xúc ánh sáng tự nhiên khiến nhận biết thời gian trở thành việc khó khăn. Các thủy thủ thường nhận biết thời gian qua thực phẩm mà họ sử dụng. Nhà bếp, nơi cung cấp thực phẩm cho thủy thủ đoàn khá rộng so với những phòng khác. Thực phẩm tươi sống mang theo chỉ đủ sử dụng trong 1-2 tuần đầu. Những tuần còn lại, thực phẩm đóng hộp là lựa chọn số 1. Nơi này luôn hoạt động liên tục 24/7 để phục vụ cho 3 ca làm việc mỗi ngày, các thủy thủ sẽ có đồ ăn nóng phục vụ bất cứ lúc nào họ muốn. Đồ ăn của sĩ quan được chuẩn bị riêng. Khẩu phần ăn của thủy thủ Nhật Bản thường mang đậm chất truyền thống và cá là một trong những thực phẩm không thể thiếu trong các bữa ăn của người Nhật nói chung và binh sỹ JMSDF nói riêng.

Không gian trên tàu khá hẹp nên chỗ ngủ của các thủy thủ cũng không rộng rãi cho lắm. Khu vực phòng ngủ của thuyền trưởng thường được thiết kế riêng biệt, các giường ngủ dành cho thủy thủ được lắp đặt dạng tầng nhằm tiết kiệm không gian, mỗi chiếc giường chỉ có diện tích khoảng 1,4 m2. Các thủy thủ Nhật Bản ví von giường của mình như những chiếc “quan tài” vì nó chỉ vừa đủ cho một người nằm. Do không gian chật hẹp, các giường ngủ được bố trí ngay bên cạnh những quả ngư lôi. Thời gian thư giãn của thủy thủ đoàn gói gọn trong một hội trường nhỏ, nơi họ có thể xem phim, nghe nhạc để xả stress sau những giờ làm việc căng thẳng. 70 thủy thủ trên tàu phải sử dụng chung một nhà tắm. Nhà sản xuất cũng thiết kế kích thước phòng tắm nhỏ để dành không gian cho những khu vực quan trọng. Nước sạch trên tàu cũng rất hạn chế, các tàu ngầm thuộc lớp này đều sử dụng các máy chưng cất từ nước biển. Nước biển sẽ được đun nóng tạo ra hơi và sẽ được làm lạnh lại để sử dụng. Thường thì chỉ có vài sĩ quan, gồm thuyền trưởng và bếp trưởng còn có cơ hội để tắm. Còn lại các thuỷ thủ sẽ sử dụng loại quần short và áo sơ mi ngắn tay dùng một lần. Họ luôn đối phó với các điều kiện chật chội và bị giới hạn. Về mặt sức khoẻ thì thủy thủ các tàu lớp Oyashio có tinh thần và thể chất mạnh hơn so với các thuỷ thủ tàu khu trục.

Cảm biến/radar[sửa | sửa mã nguồn]

Về cảm biến, Oyashio trang bị hệ thống sonar, radar trinh sát do Nhật Bản tự thiết kế. Cảm biến chính của tàu là hệ thống định vị thủy âm đa chức năng Hughes/Oki ZQQ 5B/6 với một mảng hình cầu phía trước mũi, 4 mảng gắn ở thân tàu.

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]