Phi điệp đơn

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới điều hướng Bước tới tìm kiếm
Phi điệp đơn
Dendrobium crystallinum.jpg
Phân loại khoa học
Giới (regnum)Plantae
(không phân hạng)Angiospermae
(không phân hạng)Monocots
Bộ (ordo)Asparagales
Họ (familia)Orchidaceae
Phân họ (subfamilia)Epidendroideae
Tông (tribus)Dendrobieae
Phân tông (subtribus)Dendrobiinae
Chi (genus)Dendrobium
Loài (species)D. crystallinum
Danh pháp hai phần
Dendrobium crystallinum
Rchb.f. (1868)
Danh pháp đồng nghĩa
  • Callista crystallina (Rchb.f.) Kuntze (1891)
  • Dendrobium crystallinum var. hainanense S.J. Cheng & C.Z. Tang (1986)

Phi điệp đơn hay thạch hộc kim, ngọc vạn pha lê, hoàng thảo ngọc thạch, hoàng thảo hoa sen (danh pháp hai phần: Dendrobium crystallinum) là một loài lan trong chi Lan hoàng thảo.

Cây phân bố ở Myanma, Thái Lan, Lào, Trung Quốc, Việt Nam. Tại Việt Nam, cây có mặt ở các khu vực: Quảng Trị, Gia Lai, Đắk Lắk, Lâm Đồng[1].

Đặc điểm nhận dạng[sửa | sửa mã nguồn]

Thân cây tròn giống cỏ sậy, lá giống lan phi điệp nhưng dài và to hơn. Sinh trưởng thân mới thì thân cũ khô và rụi đi. Ra hoa vào mùa hè (cuối hè), hoa to, hoa từng chùm, một chùm khoảng 04 đến 05 hoa (tên gọi khác: long tu chùm long tu đơn, hoàng thảo hoa sen, vì hoa to, sắc trắng tinh khiết như hoa sen), mùi thơm. sắc hoa trắng, họng hoa có đốm vàng và chấm đen. hiện tại loài này còn rất ít, chỉ có những người sưu tầm mới có, còn lan rừng thì gần như tuyệt chủng.

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Nguyễn Tiến Bân (chủ biên) (2005). Danh lục các loài thực vật Việt Nam. Tập III. Hà Nội: Nhà xuất bản Nông nghiệp. tr. 568.

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]