Bước tới nội dung

Philippe I xứ Orléans

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Philippe I xứ Orléans
Được vẽ bởi Pierre Mignard
Công tước xứ Orléans
Tại vị2 tháng 2 năm 1660 - 9 tháng 6 năm 1701
Tiền nhiệmGaston I
Kế nhiệmPhilippe II
Thông tin chung
Sinh(1640-09-21)21 tháng 9 năm 1640
Château de Saint-Germain-en-Laye, Pháp
Mất9 tháng 6 năm 1701(1701-06-09) (60 tuổi)
Château de Saint-Cloud, Pháp
An táng21 tháng 6 năm 1701
Vương cung thánh đường Thánh Denis, Pháp
Phối ngẫu
Hậu duệ
Tên đầy đủ
Philippe de Bourbon [1]
Vương tộcNhà Bourbon (sinh ra)
Nhà Orléans (sáng lập)
Thân phụLouis XIII của Pháp Vua hoặc hoàng đế
Thân mẫuAna của Tây Ban Nha
Tôn giáoCông giáo La Mã
Chữ ký

Philippe I xứ Orléans (tiếng Pháp: Philippe d'Orléans; 21 tháng 9 năm 1640 – 9 tháng 6 năm 1701), còn gọi là Philippe của Pháp (tiếng Pháp: Philippe de France), là con trai của Louis XIIIAna của Tây Ban Nha. Anh trai của ông là Vua Louis XIV, nổi tiếng với tôn hiệu là "Vua mặt trời". Ngay từ khi mới chào đời, ông được phong Công tước xứ Anjou. Năm 1660, sau cái chết của người chú Gaston, Công tước xứ Orléans, ông được trao tước vị Công tước xứ Orléans. Năm 1661, Philippe cũng nhận được các lãnh địa công tước ValoisChartres.[2] Sau chiến thắng của Philippe trong cuộc chiến năm 1671, Vua Louis XIV phong thêm cho ông tước hiệu Công tước xứ Nemours, các lãnh địa Hầu tước ở Coucy và Folembray, cũng như Bá tước của xứ Dourdan và Romorantin.[3] Trong thời gian trị vì của anh trai, ông được biết đến đơn giản là Đức Ông, phong cách truyền thống tại triều đình của Pháp dành cho em trai của nhà vua.

Mặc dù không giấu giếm gì về hành vi đồng tính luyến ái của mình, ông đã kết hôn hai lần và làm cha cho nhiều đứa con. Ông là người sáng lập ra Gia tộc Orleans, một chi nhánh của Gia tộc Bourbon, và do đó là tổ tiên trực tiếp của Louis Philippe I, người trị vì Pháp từ năm 1830 đến 1848 trong Quân chủ tháng Bảy. Thông qua những đứa con của hai cuộc hôn nhân của mình, Philippe trở thành tổ tiên của hầu hết vương gia Công giáo La Mã thời hiện đại, do đó ông có biệt danh là " ông nội của châu Âu ".[4] Điển hình như trong cuộc hôn nhân giữa người con gái út của ông là Élisabeth Charlotte của Orléans với Công tước Leopold xứ Lorraine, đã đưa ông trở thành tổ tiên của Vương tộc Habsburg-Lothringen. Ông cũng là chỉ huy quân sự tại Trận chiến Cassel năm 1677. Thông qua cách ứng xử cẩn thận, Philippe đã tăng cường đáng kể vận may của Gia tộc Orleans.

Thiếu thời

[sửa | sửa mã nguồn]

Sinh ra và dòng dõi

[sửa | sửa mã nguồn]
Philippe và anh trai, tương lai là vua Louis XIV của Pháp, được vẽ bởi họa sĩ vô danh

Philippe sinh ngày 21 tháng 9 năm 1640 tại Château de Saint-Germain-en-Laye ở thị trấn Saint-Germain-en-Laye, Pháp, một ngày trước sinh nhật lần thứ 39 của Vương hậu Ana. Là con trai của Vua Louis XIII, Philippe từ khi sinh ra đã giữ cấp bậc của một Vương tử nước Pháp.[1] Như vậy, ông xếp ngay sau anh trai Louis, Thái tử nước Pháp (Dauphin de France), người kế thừa ngai vàng Pháp trước khi Philippe lên ba tuổi. Từ khi sinh ra, Philippe đứng thứ hai trên thứ tự thừa kế ngai vàng nước Pháp và được tôn là Con trai nước Pháp.[1]

Ông được sinh ra với sự chứng kiến của cha mình là Vua Louis XIII của Pháp, Nữ thân vương xứ Condé,[5]Nữ công tước xứ Vendôme, những thành viên nổi bật của triều đại Bourbon đương thời. Chị họ của Philippe, Anne Marie Louise d'Orléans, đã ghi trong hồi ký của mình rằng sự ra đời của đứa trẻ được đánh dấu bằng những phát đại bác ăn mừng ở Paris.[6] Một giờ sau khi chào đời, ông được Dominique Séguier, Giám mục xứ Meaux, làm lễ rửa tội riêng cho ông,[7] và được đặt tên là Philippe. Vua Louis XIII muốn trao cho đứa trẻ sơ sinh danh hiệu Bá tước xứ Artois để vinh danh chiến thắng gần đây của Pháp ở Arras thuộc Bá quốc Artois. Tuy nhiên, Louis tôn trọng truyền thống và thay vào đó phong cho con trai tước hiệu Công tước xứ Anjou, một tước hiệu thường được phong cho các con trai thứ 2 của các vị vua Pháp kể từ thế kỷ XIV. Sau lễ rửa tội, Philippe được giao cho Françoise de Souvré, Hầu tước de Lansac,[8] chăm sóc cho anh trai của ông, vào năm 1643 là Marie-Catherine de Senecey.

Đức Ông trẻ (Le Petit Monsieur)

[sửa | sửa mã nguồn]
Bức chân dung do Vương hậu Anne gửi cho anh trai Felipe IV, vào khoảng k. 1650 được vẽ bởi Jean Nocret

Sau cái chết của vua cha, Louis XIII, vào tháng 5 năm 1643, anh trai của Philippe lên ngôi vua Pháp lấy hiệu là Louis XIV. Mẹ của họ, Thái hậu Ana đã sắp xếp một thỏa thuận chia sẻ quyền lực với Đức Hồng y Mazarin, người từng giữ chức vụ Bộ trưởng của Louis XIII.[9] Ana hiện đang kiểm soát hoàn toàn các con của mình, điều mà bà đã ganh đua từ khi chúng chào đời. Là em trai của nhà vua, Philippe được gọi là Đức Ông Trẻ (le Petit Monsieur),[10] vì chú ông, Gaston d'Orléans, người cũng là em trai của một vị vua Pháp, vẫn còn sống, được gọi là le Grand Monsieur. Mãi đến năm 1660 sau cái chết của Gaston, Philippe mới được biết đến đơn giản là Đức Ông hay Công tước xứ Orleans.[11]

Vương tử Philippe được công nhận là có ngoại hình hấp dẫn, tình cảm và thông minh.[12] Nữ công tước xứ Montpensier gọi anh là "đứa trẻ xinh đẹp nhất thế giới",[13] trong khi bạn của mẹ anh và cũng là người bạn tâm giao, Madame de Motteville, sau này nói về Philippe rằng ông đã sớm thể hiện một "trí thông minh hoạt bát". Từ năm 1646 trở đi, Philippe đã trải qua một phần thời thơ ấu của mình tại Hôtel de Villeroy ("Cremerie de Paris"), nhà của Nicolas de Villeroy, gia sư của anh trai ông là Louis XIV. Bọn trẻ chơi ở đó với Catherine de Villeroy và François de Villeroy.[14]

Vào mùa thu năm 1647, lúc 7 tuổi, Philippe mắc bệnh đậu mùa, nhưng đã bình phục và dưỡng bệnh tại Palais-Royal. Một năm sau, ông không còn nhận được sự chăm sóc bởi các nữ gia sư và vào ngày 11 tháng 5 năm 1648, ông tiến hành nghi lễ chính thức đầu tiên khi ông được rửa tội công khai tại Cung điện Hoàng gia.[15] Cha mẹ đỡ đầu của ông là chú Gaston và dì là Vương hậu Henriette Marie của Anh.[16] Sau đó, ông được giao cho François de La Mothe Le VayerAbbé de Choisy chăm sóc.[17] Ông cũng được giáo dục bởi César, duc de Choiseul. Các gia sư của Philippe được chọn bởi Hồng y Mazarin, người được mẹ Philippe tin tưởng và giao cho toàn quyền về giáo dục cho vương tử. Giáo dục của ông nhấn mạnh ngôn ngữ, lịch sử, văn học, toán học và khiêu vũ.[18] Mặc dù có một gia đình riêng, hành vi của vương tử vẫn bị mẹ mình và Hồng y Mazarin theo dõi chặt chẽ, người đảm bảo rằng Philippe không có quyền tự do tài chính đáng kể nào từ vương quyền.[19]

Philippe mặc trang phục cho lễ đăng quang của anh trai mình, k. 1654 bởi một nghệ sĩ vô danh

Khi Philippe lên 8 tuổi, cuộc nội chiến được gọi là Fronde bắt đầu ở Pháp. Nó kéo dài đến năm 1653, qua hai giai đoạn chính: Fronde Parlementaire (1648–1649) và Fronde des Nobles (1650–1653).[20] Trong cuộc xung đột, gia đình hoàng gia buộc phải rời khỏi Paris vào đêm ngày 9 tháng 2 năm 1651[21] vì sự an toàn của Saint-Germain-en-Laye[22] nhằm tránh một cuộc nổi dậy của giới quý tộc chống lại Hồng y Mazarin. Khi hòa bình trở lại, Philippe quyết định chuyển hộ gia đình của mình đến Palais des Tuileries, trước đây là nơi ở của Nữ công tước xứ Montpensier đối diện với Palais Royal.[23] Khi Vua Louis XIV đăng quang vào ngày 7 tháng 6 năm 1654, Philippe là người nhận vinh dự đặt vương miện của Vương quốc Pháp lên đầu anh trai mình. Trong suốt cuộc đời, Philippe nổi tiếng là người yêu thích nghi thức và sự lộng lẫy, đảm bảo rằng tất cả các chi tiết nghi lễ đều được tôn trọng.[24]

Vào cuối tháng 6 năm 1658, Louis lâm bệnh nặng. Được cho là mắc bệnh thương hàn, Louis gần như được tuyên bố là đã chết, nhưng vào giữa tháng 7, ông bắt đầu hồi phục. Căn bệnh khiến Philippe, người thừa kế ngai vàng, trở thành trung tâm của sự chú ý. Vì sợ lây nhiễm, Philippe không thể gặp anh trai mình. Trong cơn khủng hoảng, Vương hậu Anne trở nên thân thiết với cậu con trai út hơn, thể hiện tình cảm với cậu nhiều hơn.[25] Sau khi Louis hồi phục, Philippe một lần nữa bị bỏ mặc cho các gia sư của riêng mình. Sau đó vào năm 1658, Philippe thực hiện giao dịch mua quan trọng nhất của mình, Château de Saint-Cloud, một tòa nhà cách Paris khoảng 10 km về phía Tây. Vào ngày 8 tháng 10 năm 1658, chủ sở hữu của nó là Barthélemy Hervart đã tổ chức một bữa tiệc thịnh soạn tại Saint-Cloud để vinh danh gia đình hoàng gia. Khoảng hai tuần sau, vào ngày 25 tháng 10, Philippe mua bất động sản này với giá 240.000 livre vàng.[19] Ông ngay lập tức bắt tay vào tổ chức cải tạo nơi lúc đó là một biệt thự nhỏ.[19]

Công tước xứ Orléans

[sửa | sửa mã nguồn]

Khi chú ông, Gaston d'Orléans qua đời vào tháng 2 năm 1660,[26] tước hiệu Công tước xứ Orléans bỏ trống vì Gaston không có con trai thừa kế.[27] Xứ Orleans là một trong những lãnh địa được đánh giá cao nhất của thời kỳ đó, và theo truyền thống được ban cho người anh em của nhà vua. Do đó, sau cái chết của Gaston, Philippe được tiếp nhận tước phong Công tước xứ Orleans và Vua Louis XIV đã trao cho Philippe tước hiệu chính thức vào ngày 10 tháng 5 năm 1661,[28] cùng với các tước hiệu phụ Công tước xứ Valois và Công tước xứ Chartres,[27] tất cả các tước hiệu này đã đăng ký tại Nghị viện Paris.[28] Ông cũng được phong là Lãnh chúa xứ Montargis.[29]

Để ngăn cản kiểu mối quan hệ nóng nảy đã phát triển giữa Louis XIII và em trai của ông ta là Gaston, Thái hậu Anne và Hồng y Mazarin đã đưa ra chính sách riêng nhằm ngăn Philippe theo đuổi những tham vọng có thể dẫn đến sự cạnh tranh hoặc bất chấp nhà vua. Ngoài quyền hành của mình, anh ta không được trao quyền tự do tài chính đáng kể nào từ Vương quyền.[30] Sau đó, với tài sản vốn đã giàu có của mình, Philippe muốn bổ sung thêm quyền Bá tước xứ Blois, với Château de Chambord thuộc quyền sở hữu của nó, và quyền thống đốc xứ Languedoc, nhưng cả hai đều bị vua anh từ chối.[30]

Hôn nhân và đời sống tình ái

[sửa | sửa mã nguồn]

Xu hướng tính dục

[sửa | sửa mã nguồn]
Chevalier de Lorraine 1643 - 1702

Trong thời thơ ấu, Vuong hậu Ana hay gọi Philippe bằng những biệt danh như "cô bé của tôi" và khuyến khích ông mặc quần áo nữ - một thói quen sẽ theo ông suốt đời. Khi còn trẻ, Philippe thường cải trang nữ giới để dự các vũ hội và yến tiệc, chẳng hạn có lần hóa thân thành một cô gái chăn cừu. Một người đương thời về sau đã mỉa mai gọi ông là “người đàn bà ngớ ngẩn nhất từng tồn tại”, ám chỉ tính nữ hóa của Philippe. Có vẻ như năm 1658 là thời điểm khuynh hướng tính dục của Philippe trở nên rõ rệt. Lời đồn nơi cung đình cho rằng cháu trai của Hồng y Mazarin Philippe Jules Mancini, Công tước xứ Nevers, đã là "người đầu tiên [đã] làm hỏng" Philippe trong cái được gọi là "phó tướng Ý" - tiếng lóng đương thời cho đồng tính luyến ái nam. Phillippe chắc chắn đã có những liên hệ đầu tiên vào năm 1658 với Philippe de Lorraine, được biết đến với cái tên Chevalier de Lorraine (Hiệp sĩ de Lorraine), người tình nam mà ông sẽ thiết lập sự gắn bó tình cảm trong suốt cuộc đời mình. Do sự phản trắc của Gaston trong phong trào Fronde cũng như các sự đề phòng khác, hoạt động đồng tính luyến ái của Philippe được coi là làm giảm bất kỳ mối đe dọa tiềm tàng nào có thể đã đặt ra cho anh trai của mình.

Sau cuộc hôn nhân của Louis XIV với María Teresa của Tây Ban Nha vào ngày 9 tháng 6 năm 1660, Thái hậu Ana đã chú ý đến cuộc hôn nhân của Philippe. Trước đây, ông đã được khuyến khích kết hôn với người chị họ của mình là Nữ Công tước xứ Montpensier, con gái lớn của Gaston với người vợ đầu tiên, Marie de Bourbon. Nữ Công tước thường được gọi tại cung đình là Mademoiselle, có một tài sản riêng khổng lồ và trước đó đã từ chối những người cầu hôn như Charles II của Anh. Sinh năm 1627, Marie là người thừa kế duy nhất của mẹ mình, người đã qua đời khi sinh ra bà. Mademoiselle đã từ chối kết hôn, phàn nàn rằng Philippe luôn ở gần mẹ như thể anh ta "như một đứa trẻ". Mademoiselle thay vì vẫn chưa lập gia đình. Philippe sau đó được sắp đặt kết hôn với người chị em họ khác, Vương nữ Henrietta của Anh, con út của Vua Charles I của Anh với Vương hậu Henriette Marie, là dì của Philippe và đã tị nạn tại cung đình Pháp sau khi Vương nữ Henrietta ra đời năm 1644. Họ sống ở Vương cung và tại Palais du Louvre. Năm 1660, Gia tộc Stuart trở lại ngai vàng nước Anh dưới thời anh trai Charles II, Vương nữ Henrietta trở về Anh để thăm chị gái của mình, Mary Henrietta, Vương nữ Vương thất, người sau đó bị mắc bệnh đậu mùa và qua đời. Cung đình Pháp đã chính thức yêu cầu bàn tay của Henrietta thay mặt Philippe vào ngày 22 tháng 11 năm 1660 khi bà đang ở Anh. Cặp đôi đã ký hợp đồng hôn nhân tại Vương gia Palais vào ngày 30 tháng 3 năm 1661. Buổi lễ diễn ra vào ngày hôm sau trong cùng tòa nhà trước các thành viên được lựa chọn của tòa án. Của hồi môn được hứa hẹn là một con số khổng lồ 840.000. Được biết đến với cái tên là Henriette d'Angleterre ở Pháp và Minette với những người thân thiết của mình, bà thường được gọi chính thức là Lệnh bà (Madame) và được triều đình yêu mến.

Kết hôn với Liselotte von der Pfalz

[sửa | sửa mã nguồn]
Elisabeth Charlotte với hai đứa con của bà với Philippe, k. 1679, bởi Pierre Mignard

Sau khi Vương nữ Henrietta qua đời do chứng viêm loét đường ruột (30 tháng Sáu 1670), năm 1671 Louis XIV đã ép em trai Philippe kết hôn với[31] Elisabeth Charlotte,[32] còn được gọi là Liselotte, con gái của Tuyển hầu xứ Pfalz. Liselotte không có ngoại hình hấp dẫn, nên khi Philippe lần đầu tiên nhìn thấy bà, ông được cho là đã nhận xét "làm thế nào ta có thể ngủ với cô ta?"[33][34] Những lá thư của Liselotte ghi lại việc bà ly thân với Philippe theo yêu cầu của ông sau khi họ sinh con, và bất đắc dĩ phải lặng lẽ chịu đựng sự hiện diện của những người tình đồng giới của Philippe trong gia đình mình.

Cặp đôi rất hạnh phúc trong những năm đầu chung sống. Chevalier de Lorraine đang ở Ý, nhưng quay trở lại vào mùa xuân năm 1672. Mang thai vào cuối năm đó, Elisabeth Charlotte sinh một con trai vào tháng 6 năm 1673, đặt tên là Alexandre Louis và được phong tước Công tước xứ Valois.[35] Tuy nhiên, đứa trẻ đã qua đời vào năm 1676.[36] Con trai thứ hai, Philippe Charles được sinh ra đời sau đó vào năm 1674,[37] và tiếp theo là cô con gái Élisabeth Charlotte vào năm 1676.[38] Đến lúc này, cả hai đồng ý ngủ riêng giường.[39] Elisabeth Charlotte được khen ngợi là một mẹ tuyệt vời.[40] Con trai thứ hai của Philippe với Elisabeth Charlotte, được gọi phong Công tước xứ Chartres cho đến khi ông thừa kế tước vị Công tước xứ Orléans vào năm 1701,[41] sau đó giữ chức Nhiếp chính của Pháp trong thời kỳ Vua Louis XV chưa đủ tuổi để cai trị vương quốc.[37] Elisabeth Charlotte đóng vai trò là mẹ của các con của Philippe với Henrietta và duy trì thư từ với chúng cho đến khi bà qua đời.[38]

Trận Cassel

[sửa | sửa mã nguồn]

Sau khi đã khẳng định danh tiếng là một tướng lĩnh tài năng trong Chiến tranh Kế thừa năm 1667, Philippe nóng lòng quay trở lại chiến trường. Trong các năm 1676 và 1677, ông tham gia nhiều cuộc vây hãm tại Flanders, và được thăng hàm Trung tướng, trở thành phó tổng chỉ huy, chỉ đứng sau Louis XIV.[42]

“Dân chúng Paris phát cuồng vì vui sướng. Họ thực sự yêu mến Monsieur. Nhưng tại triều đình, người ta lại ước rằng ngài đã thua trận — vì lợi ích của nhà vua…”
— Trích hồi ký của Primi Visconti[43]

Chiến thắng lẫy lừng nhất dưới quyền chỉ huy của Philippe diễn ra vào ngày 11 tháng 4 năm 1677: Trận Cassel, đối đầu với William III, Thân vương xứ Oranje,[44] người sau này trở thành Quốc vương Anh, đồng thời là con trai của Mary, Vương nữ Vương thất, chị họ đời thứ nhất của Philippe. William quyết định tiến quân giải vây các thành trì đang bị uy hiếp; từ Ypres, ông dẫn 32.000 quân hành quân qua PoperingeOxelaëre, tiến vào thung lũng Cassel. Philippe, khi hay tin kế hoạch này, liền bố trí chặn đánh quân Oranje tại Penebeek, giữa NoordpeeneZuytpeene. Quốc vương Louis XIV gửi đến cho em trai 25.000 bộ binh và 9.000 kỵ binh từ Cambrai, dưới quyền chỉ huy của Thống chế Luxembourg. Đến khi màn đêm buông xuống, tổng cộng 66.000 binh sĩ đã sẵn sàng giao chiến. Quân Hà Lan tấn công các vị trí của Pháp mà không trinh sát trước. Thống chế Luxembourg bất ngờ tung ra một đòn kỵ binh, gần như tiêu diệt ba tiểu đoàn và khiến quân đội của William tan vỡ hoàn toàn. Tổng thương vong của hai bên ước tính 4.200 người tử trận và 7.000 người bị thương. Philippe được ca ngợi vì tài thao lược quân sự, điều này lại khiến anh trai ông vô cùng khó chịu. Louis XIV được cho là ghen tị với sự nổi tiếng ngày càng tăng của em trai, cả tại triều đình lẫn ngoài chiến trường.[45] Để kỷ niệm chiến thắng Cassel, Philippe cho thành lập Trường Barnabite tại Paris.[46] Chiến dịch này cũng đánh dấu sự kết thúc sự nghiệp quân sự của ông; không lâu sau đó, Philippe lại đắm mình trong đời sống xa hoa và hưởng lạc.[44]

Mở rộng văn hóa và điền sản

[sửa | sửa mã nguồn]
Château de Saint Cloud k. 1677.

Từ sau chiến thắng Cassel cho đến thập niên 1690, Philippe chủ yếu tập trung vào việc mở rộng lãnh địa, gia tăng tài sản cá nhân và sưu tập nghệ thuật, bao gồm việc trùng tu các dinh thự như Palais-Royal và Château de Saint-Cloud. Saint-Cloud là nơi ở yêu thích nhất của ông,[47] đồng thời là trung tâm của một triều đình nhỏ ngày càng đông đảo và đầy sóng gió.[32] Ngoài ra, Saint-Cloud của Monsieur được xem là “Versailles thứ hai”.[31] Philippe trở thành đại bảo trợ nghệ thuật, đặc biệt với các họa sĩ Jean NocretPierre Mignard, những người được giao trang trí nội thất cho Saint-Cloud và Palais-Royal. Ngay từ năm 1660, ông đã giao cho Antoine Lepautre mở rộng Saint-Cloud; về sau, Lepautre còn được bổ nhiệm làm Tổng quản điền sản (contrôleur général) của Philippe.[44]

Sau khi Lepautre qua đời năm 1679, công trình Saint-Cloud được tiếp tục bởi Jean Girard, phối hợp với Thomas Gobert. Về sau, Philippe mời Jules Hardouin-Mansart thiết kế đại cầu thang ở cánh trái, theo phong cách Cầu thang Đại sứ tại Versailles. Khu vườn được André Le Nôtre cải tạo, trong khi hồ nước và kênh thấp được Mansart bổ sung vào năm 1698. Khi Philippe qua đời năm 1701, điền trang Saint-Cloud rộng khoảng 1.200 mẫu Anh (4,9 km²). Saint-Cloud thuộc về gia tộc Orléans cho đến năm 1785, khi Louis-Philippe xứ Orléans, chắt của Philippe, bán lại cho Vương hậu Marie-Antoinette với giá 6 triệu livre.[48]

Các sửa chữa nhỏ tại Palais-Royal bắt đầu từ năm 1661, nhân dịp Philippe kết hôn với Henrietta, nhưng do đây là tài sản hoàng gia nên ông bị hạn chế và đã không được sử dụng chính thức trong nhiều năm.[49] Philippe bị hạn chế trong những gì ông có thể làm để cải tạo cho đến khi ông được toàn quyền sở hữu nó vào năm 1692.[50] Philippe tiếp tục nhờ Mansart hiện đại hóa cung điện, còn phần trang trí nội thất do Antoine Coypel đảm trách.

Philippe không chỉ yêu thích kiến trúc và đời sống cung đình, mà còn say mê âm nhạc và vũ đạo; ông nổi tiếng với tài khiêu vũ xuất chúng. Ông bảo trợ cho nhiều nhạc sĩ như Jean-Henri d’Anglebert, Henri Dumont, Jacques-Antoine ArlaudMarie Aubry, nhiều người trong số họ sẽ ở lại trong gia đình con trai ông sau khi ông qua đời vào năm 1701. Jean-Baptiste Lully cũng là người được Philippe bảo trợ sau khi ông rời khỏi gia đình. Bộ sưu tập nghệ thuật tuy không lớn của ông đã trở thành nền tảng cho Bộ sưu tập Orléans, một trong những bộ sưu tập nghệ thuật quan trọng nhất châu Âu.[51]

Được Nghị viện Paris cho phép, Philippe đầu tư vào nhiều dự án nhằm tăng giá trị điền sản. Từ năm 1679, ông được quyền xây dựng Kênh đào Orléans, nối sông Loire tại Orléans với kênh Loing và kênh Briare.[52] Đây là kênh đào lớn nhất tại Pháp kể từ thời Henri IV, xây dựng Kênh đào Briare vào năm 1604, việc xây dựng nó được coi là một kỳ tích kỹ thuật. Kênh đào, được sử dụng để vận chuyển hàng hóa từ Orléans đến Paris, đã rất thành công vào thời đó và vẫn được sử dụng cho đến ngày nay. Việc đầu tư và quản lý cẩn thận các điền trang khác nhau của Philippe đã biến ông thành một người giàu có thực sự, và tài sản của ông đã tăng lên đáng kể sau cái chết của người em họ Mademoiselle vào năm 1693. Philippe được công nhận không chỉ là thủy tổ sinh học, mà còn là người đặt nền móng tài chính cho Nhà Orléans, với tài sản sánh ngang nhánh chính của Nhà Bourbon.[53][54]

Những năm cuối đời

[sửa | sửa mã nguồn]
Chân dung năm 1695 bởi Louis Ferdinand Elle the Elder.

Sau khi Grande Mademoiselle qua đời năm 1693, Philippe thừa hưởng nhiều tước vị: Montpensier, Châtellerault, Saint-Fargeau, Beaupréau,[55] Ông cũng trở thành Thân vương xứ Joinville, bá tước xứ Dourdan, Mortain và Bar-sur-Seine và tử tước xứ Auge và Domfront. Nhờ đó, trong những năm cuối đời, Philippe có thể dễ dàng duy trì lối sống xa hoa, và tìm thấy niềm mãn nguyện lớn lao trong hoạt động và thành tựu của con cháu. Hai con gái của ông với Henrietta đều kết hôn với những quân vương quyền thế tại châu Âu, về sau lên ngôi vương hậu; trong khi con trai ông, Công tước xứ Chartres, theo đuổi một sự nghiệp quân sự sôi nổi và hiển hách, từng tham chiến tại Trận Steenkerque (1692) và Cuộc vây hãm Namur, khiến Philippe hết sức tự hào.[56] Cũng như trước đây đối với Philippe, Louis XIV luôn thận trọng trong việc hạn chế quyền lực của Chartres.[57]

"Trong ba năm cuối đời, tôi đã chinh phục được trái tim của Monsieur. Chúng tôi thậm chí còn cùng nhau cười đùa về những khiếm khuyết của ngài… Ngài tin tưởng tôi và luôn đứng về phía tôi; nhưng trước đó, tôi đã phải chịu đựng vô vàn khổ đau. Tôi vừa mới bắt đầu được hạnh phúc thì Thượng đế đã mang Monsieur đáng thương rời xa tôi."
Elisabeth Charlotte xứ Pfalz viết thư gửi Vương phi xứ Wales năm 1716, hồi tưởng về tình cảm gắn bó trong những năm cuối của cuộc hôn nhân.[58]

Năm 1696, Marie-Adélaïde, cháu ngoại của Philippe, từ Ý đến triều đình Pháp để kết hôn với Louis, Công tước xứ Bourgogne, người đứng thứ ba trong hàng kế vị ngai vàng.[59] Hai người thành hôn năm 1697 và trở thành cha mẹ của Quốc vương Louis XV.[60] Năm 1701, khi Chiến tranh Kế vị Tây Ban Nha bùng nổ, Công tước xứ Chartres bị tước quyền chỉ huy ngoài mặt trận.[61] Sự việc này gây nên nỗi phẫn uất sâu sắc cho cả hai cha con họ. Cái cớ được đưa ra dường như là việc Chartres công khai khoe khoang tình nhân, Mademoiselle de Séry, trước mặt chính thất của mình.[62] Ngày 8 tháng 6 năm 1701, Louis XIV và Philippe gặp nhau dùng bữa tại lâu đài Marly. Ngay khi gặp mặt, nhà vua khiển trách Philippe về hành vi của Chartres với Mademoiselle de Séry.[63] Philippe đáp trả bằng cách trách cứ Louis XIV về những hành vi tương tự của chính nhà vua với các tình nhân trong thời gian còn hôn nhân với Vương hậu Marie-Thérèse,[64] đồng thời nhấn mạnh rằng Chartres vẫn chưa nhận được những ân huệ đã hứa khi ông kết hôn với Françoise Marie, con gái hợp pháp hóa của Quốc vương.[65] Tuy vậy, thông báo dọn bữa tối ra đã chấm dứt cuộc tranh cãi, và hai anh em ngồi vào bàn ăn.[66]

Tối hôm ấy, Philippe tức giận trở về Saint-Cloud để dùng bữa với con trai. Trưa ngày 9 tháng 6 năm 1701, ông đột quỵ[67] và qua đời trong vòng tay của con trai, ở tuổi 60.[68] Khi hay tin người em ruột duy nhất đã qua đời, Louis XIV thốt lên: “Ta không thể tin rằng ta sẽ không bao giờ còn được gặp lại em trai mình nữa.”[69] Công tước phu nhân xứ Bourgogne cũng vô cùng đau đớn, thừa nhận rằng bà “đã yêu mến Monsieur rất nhiều”.[70] Ngày 14 tháng 6, trái tim của Philippe được đưa đến tu viện Val-de-Grâce;[71] đến 21 tháng 6, linh cữu ông được an táng tại Vương cung thánh đường Saint-Denis, nơi ông an nghỉ cho đến Cách mạng Pháp, khi thánh đường bị xâm phạm và các phần mộ bị hủy hoại.[72]

Lo sợ rằng mình sẽ bị ép vào tu viện theo điều khoản trong hôn ước nếu Philippe qua đời,[73] Elisabeth Charlotte được Quốc vương bảo đảm rằng bà có thể ở lại triều đình bao lâu tùy ý.[69] Bà thiêu hủy toàn bộ thư từ của các tình nhân của Philippe qua các năm,[74] sợ rằng chúng có thể rơi vào “những bàn tay không nên có”,[75] đồng thời than phiền rằng mùi nước hoa trên những bức thư khiến bà buồn nôn.[76] Louis XIV trấn an tân Công tước xứ Orléans trước kia là Công tước xứ Chartres rằng mọi chuyện quá khứ đã được bỏ qua, và từ nay nhà vua sẽ coi ông như con trai. Cả triều đình chìm trong tang tóc, và ngay cả Madame de Montespan, tình nhân cũ của Louis XIV và là bằng hữu thân thiết của Philippe, cũng bị chấn động sâu sắc.[77]

Hậu duệ

[sửa | sửa mã nguồn]
Huy hiệu của Philippe từ năm 1660 cho đến khi qua đời:Nền lam (Azure), ba hoa bách hợp vàng (fleur-de-lis Or), phân biệt bằng một dải nhãn bạc (label Argent).

Hôn nhân thứ nhất

[sửa | sửa mã nguồn]

Ngày 31 tháng 3 năm 1661, tại Palais-Royal, Philippe kết hôn với Vương nữ Henrietta của Anh, em họ đời thứ nhất của ông, con gái của Quốc vương Charles I của Anh và Vương hậu Henrietta Maria của Pháp. Cuộc hôn nhân này sinh được ba người con, ngoài ra còn có bốn lần sẩy thai và một trường hợp thai chết lưu:

Hôn nhân thứ hai

[sửa | sửa mã nguồn]

Ngày 16 tháng 11 năm 1671, tại Châlons, Philippe tái hôn với Elisabeth Charlotte xứ Pfalz, con gái của Karl I Ludwig, Tuyển hầu tước xứ Pfalz, và Charlotte xứ Hessen-Kassel.[78] Cuộc hôn nhân này sinh được ba người con:[83]

Tham khảo

[sửa | sửa mã nguồn]
  1. ^ a b c François Velde (ngày 4 tháng 7 năm 2005). "The French Royal Family: Titles and Customs". heraldica.org. Truy cập ngày 9 tháng 7 năm 2010.
  2. ^ Anthony, Louisa. Footsteps to history, being an epitome of the histories of England and France, from the fifth to the nineteenth century, p.195. Published 1852.
  3. ^ Lane, William Coolidge. "A.L.A. Portrait Index: Index to Portraits Contained in Printed Books", P1099. Published 1906, B. Franklin.
  4. ^ Mitford, tr.55
  5. ^ Barker, tr.3
  6. ^ Stokes 1913, tr. 47.
  7. ^ Barker, tr.4
  8. ^ Stokes 1913, tr. 48.
  9. ^ "Anne of Austria". Britannica. Encyclopædia Britannica, Inc.
  10. ^ "PHILIPPE I, DUKE OF ORLÉANS". Château de Versailles. Ministère de la culture. ngày 27 tháng 10 năm 2016.
  11. ^ Barker, tr.15
  12. ^ Stokes 1913, tr. 66.
  13. ^ Barker, tr.14
  14. ^ Louis XIV and Philippe d'Orléans at the Cremerie de Paris / Hotel de Villeroy[liên kết hỏng]
  15. ^ Barker, tr.17
  16. ^ Strickland, Agnes (1885). Lives of the Queens of England From the Norman Conquest . Harvard University: G. Bell and Sons. tr. 345.
  17. ^ Barker, tr.16
  18. ^ Barker, tr.21
  19. ^ a b c Barker, tr.54
  20. ^ "The Fronde of France". Britannica. Encyclopædia Britannica, Inc.
  21. ^ Vatout, tr.51
  22. ^ Vatout, tr.56
  23. ^ Barker, tr.41
  24. ^ Barker, p44
  25. ^ Barker, tr.52
  26. ^ "Gaston, duke d'Orléans". Britannica. Encyclopædia Britannica, Inc.
  27. ^ a b Stokes 1913, tr. 106.
  28. ^ a b François Velde (ngày 4 tháng 7 năm 2005). "Armory of Old Regime (pre-1789) French Peerage". heraldica.org. Truy cập ngày 9 tháng 7 năm 2010.
  29. ^ Anthony, tr.195
  30. ^ a b Barker, Nancy Nichols, Brother to the Sun king: Philippe, Duke of Orléans, Johns Hopkins University Press, 1989.
  31. ^ a b "Philippe d'Orléans". www.chateauversailles.fr (bằng tiếng Pháp). Truy cập ngày 1 tháng 2 năm 2026.
  32. ^ a b Mitford, tr. 56
  33. ^ Barker, tr.129
  34. ^ Stokes 1913, tr. 321.
  35. ^ Anselme 1726, tr. 188.
  36. ^ Barker, tr.156
  37. ^ a b c Stokes 1913, tr. 327.
  38. ^ a b Stokes 1913, tr. 323.
  39. ^ Fraser, tr.166
  40. ^ Barker, tr. 139
  41. ^ a b c Stokes 1913, tr. 328.
  42. ^ Stokes 1913, tr. 352.
  43. ^ Buckley 2008, tr. 180
  44. ^ a b c Pevitt 1997, tr. 17
  45. ^ Barker 1989, tr. 166
  46. ^ Williams 1909, tr. 17
  47. ^ Pevitt 1997, tr. 11
  48. ^ Saint-Albin, tr. 7–9
  49. ^ Vatout 1830, tr. 58–59
  50. ^ Vatout 1830, tr. 63
  51. ^ Watson, Peter; Wisdom and Strength, the Biography of a Renaissance Masterpiece, Hutchinson, 1990. tr. 202
  52. ^ Barker 1989, tr. 186
  53. ^ Barker 1989, tr. 166
  54. ^ Fraser 2006, tr. 279
  55. ^ Anselme 1726, tr. 187.
  56. ^ Pevitt 1997, tr. 55
  57. ^ "Philippe II, duc d'Orléans". Encyclopædia Britannica. Truy cập ngày 9 tháng 7 năm 2025.
  58. ^ Crompton 2006, tr. 345
  59. ^ Fraser 2006, tr. 298
  60. ^ Pevitt 1997, tr. 111
  61. ^ Lynn 1999, tr. 16
  62. ^ Pevitt 1997, tr. 56
  63. ^ Barker 1989, tr. 220
  64. ^ Fraser 2006, tr. 319
  65. ^ Stokes 1913, tr. 361.
  66. ^ Barker 1989, tr. 231
  67. ^ Pevitt 1997, tr. 57
  68. ^ Barker, tr. 231
  69. ^ a b Fraser 2006, tr. 320
  70. ^ Mitford 1966, tr. 204
  71. ^ Barker, tr. 231
  72. ^ Barker 1989, tr. 232
  73. ^ Cooke Taylor 1849, tr. 161
  74. ^ Gerard & Hekma 1989, tr. 111
  75. ^ Buckley 2008, tr. 338
  76. ^ Fraser 2006, tr. 320
  77. ^ Mitford 1966, tr. 206
  78. ^ a b Chisholm 1911, tr. 286.
  79. ^ a b c Weir 2011, tr. 254.
  80. ^ Anselme 1726, tr. 188.
  81. ^ Weir 2011, tr. 255.
  82. ^ "Henrietta Anne Of England". Britannica. Encyclopædia Britannica, Inc. ngày 26 tháng 6 năm 2023.
  83. ^ "PRINCESS PALATINE". Château de Versailles. Ministère de la culture. ngày 27 tháng 10 năm 2016.
  84. ^ Stokes 1913, tr. 329.

Thư mục

[sửa | sửa mã nguồn]
  • Anselme de Sainte-Marie, Père (1726). Histoire généalogique et chronologique de la maison royale de France [Genealogical and chronological history of the royal house of France] (bằng tiếng Pháp). Quyển 1 (ấn bản thứ 3). Paris: La compagnie des libraires.
  • Anthony, Louisa: Footsteps to history, being an epitome of the histories of England and France, from the fifth to the nineteenth century, 1852
  • Barker, Nancy Nichols: Brother to the Sun King; Philippe, Duke of Orléans, Johns Hopkins University Press, Baltimore/London, 1989, ISBN 0-8018-6164-0
  • Buckley, Veronica: Madame de Maintenon; The Secret wife of Louis XIV, Bloomsbury, London, 2008 ISBN 978-0-7475-8098-0
  • Carretier, Christian: Les cinq cent douze quartiers de Louis XIV", Angers-Paris, 1980
  • Cartwright, Julia: Madame: A life of Henrietta, daughter of Charles I and Duchess of Orléans, Seeley and Co.Ltd, London, 1900
  • Chisholm, Hugh, biên tập (1911). "Orleans, Philip I., Duke of" . Encyclopædia Britannica. Quyển 20 (ấn bản thứ 11). Cambridge University Press. tr. 286.
  • Cooke Taylor, William: Memoirs of the house of Orléans: Volume 1, R. Bentley, 1849
  • Crompton, Louis:Homosexuality & Civilization, Harvard University Press, 2006, ISBN 0-674-02233-5
  • Dufresne, Claud: Les Orléans, Criterion, Paris, 1991
  • Erlanger, Philippe: Louis XIV, translated from the French by Stephen Cox, Praeger Publishers, New York, 1970
  • Fraser, Antonia: Love and Louis XIV; The Women in the Life of the Sun King, Anchor Books, London, 2006, ISBN 978-0-7538-2293-7
  • Gerard, Kent & Hekman, Gert: The Pursuit of sodomy: male homosexuality in Renaissance and Enlightenment Europe, Routledge, 1989, ISBN 978-0-86656-491-5
  • Hilton, Lisa. : Athénaïs The Real Queen of France, Little Brown, London, 2002 ISBN 0-316-85878-1
  • Lurgo, Elisabetta : Une histoire oubliée. Philippe d'Orléans et la Maison de Savoie, Chambéry, Société Savoisienne d'Histoire et d'Archéologie, 2018 ISBN 978-2-85092-037-0
  • Lurgo, Elisabetta : Philippe d'Orléans, frère de Louis XIV, Paris, Perrin, 2018 ISBN 978-2-26207-516-3
  • Lynn, John: The Wars of Louis XIV, 1667–1714, New York, Longman, 1999 ISBN 0-582-05629-2
  • Mitford, Nancy: The Sun King, Penguin Publishing, London, 1966, ISBN 0-14-023967-7
  • Pevitt, Christine: The Man Who Would Be King: The Life of Philippe d'Orléans, Regent of France, Phoenix, London, 1997, ISBN 978-0-7538-0459-9
  • Sackville-West, Vita: Daughter of France: The life of Anne Marie Louise d'Orléans, duchesse de Montpensier 1627–1693, Michael Joseph, London, 1959,
  • Saint-Albin, Philippe de:Palais de Saint-Cloud, résidence impériale, Paris, 1864
  • Stokes, Hugh (1913). A Prince of Pleasure: Philip of France and His Court, 1640-1701. University of Virginia: H. Jenkins, Limited. ISBN 1230222510.
  • Vatout, Jean: Histoire du Palais-royal, Paris, 1830
  • Williams, H. Noel: A Rose of Savoy, Marie Adelaide of Savoy, duchesse de Bourgogne, Mother of Louis XV, Charles Scribner's Sons, New York, 1909
Philippe I xứ Orléans
Nhánh thứ của Vương tộc Bourbon
Sinh: 21 tháng 9, 1640 Mất: 9 tháng 6, 1701
Quý tộc Pháp
Trống
Danh hiệu cuối cùng được tổ chức bởi
Gaston
Công tước xứ Orléans
10 tháng 5 năm 1661 – 9 tháng 6 năm 1701
Kế nhiệm
Philippe II
Công tước xứ Chartres
1661 – 1674
Công tước xứ Anjou
1640 – 1660
Trống
Danh hiệu tiếp theo được tổ chức bởi
Philippe Charles