Poly(methyl methacrylate)

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Poly(methyl methacrylate)
PMMA repeating unit.svg
Danh pháp IUPAC Poly(methyl 2-methylpropenoate)
Tên khác Poly(methyl methacrylate) (PMMA)
methyl methacrylate resin
Nhận dạng
Số CAS 9011-14-7
KEGG C19504
Ảnh Jmol-3D ảnh
SMILES
Thuộc tính
Công thức phân tử (C5O2H8)n
Khối lượng mol thường biến đổi khác nhau
Khối lượng riêng 1.18 g/cm3[1]
Điểm nóng chảy 160 °C (433 K; 320 °F)[2]
Điểm sôi
Chiết suất (nD) 1,4905 tại 589,3 nm[3]
Nhiệt hóa học
Dược lý học
Các nguy hiểm
Các hợp chất liên quan
Một công nhân trong nhà máy máy bay Douglas Aircraft vào năm 1942 với buồng lái kính plexiglas của một máy bay.

Poly(methyl methacrylate) (PMMA), thủy tinh hữu cơ, cũng được biết đến như acrylic hoặc thủy tinh acrylic, Polymethylmethacrylat, cũng như bởi các tên thương mại Plexiglas, Acrylite, Lucite, và Perspex trong số nhiều thương hiệu khác (xem bên dưới), là một nhựa nhiệt dẻo trong suốt thường được sử dụng ở dạng tấm, miếng như một vật liệu nhẹ hoặc khó bể vỡ để thay thế cho kínhthủy tinh. Vật liệu tương tự cũng có thể được sử dụng như là một loại nhựa cây nhân tạo, trong mực inchất phủ, và có nhiều công dụng khác.

Mặc dù không phải là một loại thủy tinh silica quen thuộc, chất này giống như nhiều nhựa nhiệt dẻo khác, thường phân loại về mặt kỹ thuật như một loại thủy tinh (ở chỗ nó là một chất thủy tinh thể không kết tinh) vì thế trong lịch sử, thỉnh thoảng nó được gọi là "thủy tinh" acrylic. Về phương diện hoá học, đó là các polyme (hợp chất cao phân tử) tổng hợp của methyl methacrylate. Vật liệu này được phát triển vào năm 1928 trong các phòng thí nghiệm khác nhau bởi nhiều nhà hóa học như William Chalmers, Otto Rohm và Walter Bauer và lần đầu tiên được đưa ra thị trường vào năm 1933 bởi Công ty Rohm and Haas dưới thương hiệu Plexiglas.

PMMA là một chọn lựa kinh tế hơn với giá thành thấp để thay thế polycarbonate (PC) khi không cần thiết độ dày và cứng cao. Ngoài ra, PMMA không chứa các tiểu đơn vị bisphenol-A có khả năng gây hại có trong polycarbonate. Nó thường được ưa thích vì tính chất vừa phải của nó, dễ dàng xử lý và chế biến, và chi phí thấp. PMMA chưa qua chế biến có thể dễ gãy khi chịu tải trọng lớn, đặc biệt là dưới một lực tác động, và dễ bị trầy xước hơn so với thủy tinh vô cơ thông thường, nhưng với PMMA đã qua chế biến, có thể chịu được va đập và có độ chống trầy xước cao.

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Polymethylmethacrylate (PMMA, Acrylic). Makeitfrom.com. Truy cập 2015-03-23.
  2. ^ Smith, William F.; Hashemi, Javad (2006). Foundations of Materials Science and Engineering (ấn bản 4). McGraw-Hill. tr. 509. ISBN 0-07-295358-6. 
  3. ^ Refractive index and related constants – Poly(methyl methacrylate) (PMMA, Acrylic glass). Refractiveindex.info. Truy cập 2014-10-27.