Quạ đen mũi trọc

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Buớc tưới chuyển hướng Bước tới tìm kiếm
Quạ đen mũi trọc
Corvus frugilegus -Dartmoor, Devon, England-8.jpg
Dartmoor, Devon, Anh
Tình trạng bảo tồn
Phân loại khoa học
Giới (regnum)Animalia
Ngành (phylum)Chordata
Lớp (class)Aves
Bộ (ordo)Passeriformes
Họ (familia)Corvidae
Chi (genus)Corvus
Loài (species)C. frugilegus
Danh pháp hai phần
Corvus frugilegus
Linnaeus, 1758[2]
Khu vực phân bố
Khu vực phân bố

Quạ đen mũi trọc (danh pháp khoa học:Corvus frugilegus) là một loài chim trong họ Corvidae.[3]

Đặc điểm[sửa | sửa mã nguồn]

Loài này có kích thước bằng (dài 45–47 cm) hoặc hơn nhỏ hơn loài quạ đen với bộ lông đen thường có sắc xanh dương hoặc tím-xanh dưới ánh nắng. Các lông ở đầu, cổ và vai đặc biệt rậm và mượt. Chân và móng nhìn chung có màu đen và mỏ có màu xám đen.

Quạ đen mỏ trọc được phân biệt với các loài tương tự khác trong họ Quạ bởi da bao bọc quanh gốc mỏ trước mắt ở con trưởng thành có màu trắng xám. Bộ lông quanh các chân cũng trông không điều đặn như của loài quạ đen. Con tơ có bề ngoài rất giống với loài quạ đen do nó thiếu bộ phận viền quanh gốc mỏ, nhưng nó có mỏ mỏng hơn và mất đi lông trên mặt sau khoảng 6 tháng.

Phân bố và môi trường sống[sửa | sửa mã nguồn]

Mặc dù chúng sống ở Anh, Ireland và nhiều nơi ở bắc và trung Âu, một vài cá thể có thể có mặt ở Iceland và miền bắc Scandinavia, nó cũng có mặt ở đông Á. Loài này đã được du nhập vào New Zealand, với một lượng lớn chim được thả ở đây từ 1862 đến 1874, mặc dù ngày nay dãi phân bố của chúng rất cục bộ.[4]

Thức ăn[sửa | sửa mã nguồn]

Thức ăn của chúng chủ yếu là giun đấtấu trùng côn trùng, mà chúng có thể xới trên mặt đất nhờ cái mỏ cứng của nó. Nó cụng ăn những hạt ngũ cốc được trồng trọt, ngoài ra chúng còn ăn quả, các con thú nhỏ, quả sồi, chim nhỏ, trứng, con non của chúng và xác chết. Ở những khu vực đô thị, thức ăn thừa thải của con người được chúng lấy từ các thùng rác và trên đường phố, thường vào sáng sớm khi còn yên tĩnh. Nó cũng được bắt gặp dọc theo các bãi biển, chúng tìm côn trùng, giáp xác và các loại thức ăn phù hợp.

Thông minh[sửa | sửa mã nguồn]

Khi bị nhốt phải đối mặt với nhiều trở ngại, quạ đen mũi trọc được ghi nhận là một trong những loài chim có khả năng sử dụng các công cụ để đạt được mục đích. Nó học rằng nếu đẩy một hòn đá vào một cái ống, nó sẽ có thức ăn. Sau đó nó phát hiện ra rằng nó có thể tìm và mang hòn đá và bỏ vào trong ống nếu không có sẵn đá. Nó cũng sử dụng các que, dây và tìm ra cách bẻ cong thành cái mốc để lấy được một món đồ.[5] Quạ đen mũi trọc tỏ ra thông minh trong việc làm và sử dụng các công cụ đơn giản bằng cách sử dụng mỏ giống như tinh tinh sử dụng bàn tay của nó.[6]

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ BirdLife International (2012). Corvus frugilegus. Sách Đỏ IUCN các loài bị đe dọa. Phiên bản 2012.1. Liên minh Bảo tồn Thiên nhiên Quốc tế. Truy cập ngày 16 tháng 7 năm 2012. 
  2. ^ Linnaeus, C. (1758). Systema naturae per regna tria naturae, secundum classes, ordines, genera, species, cum characteribus, differentiis, synonymis, locis. Tomus I. Editio decima, reformata. (bằng tiếng Latin). Holmiae: Laurentii Salvii. tr. 824. 
  3. ^ Clements, J. F., T. S. Schulenberg, M. J. Iliff, B.L. Sullivan, C. L. Wood, and D. Roberson (2012). “The eBird/Clements checklist of birds of the world: Version 6.7.”. Truy cập ngày 19 tháng 12 năm 2012. 
  4. ^ Barrie Heather & Hugh Robertson (2005). The Field Guide to the Birds of New Zealand. Penguin Group. ISBN 978-0-14-302040-0. 
  5. ^ Rebecca Morelle (ngày 26 tháng 5 năm 2009). “Rooks reveal remarkable tool-use”. BBC News. Truy cập ngày 22 tháng 5 năm 2010. 
  6. ^ “Study finds rooks as clever as chimpanzees”. United Press International. Ngày 26 tháng 5 năm 2009. 

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]