Sồi

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Quercus
Illustration Quercus robur0.jpg
Foliage and acorns of Quercus robur
Phân loại khoa học
Giới (regnum) Plantae
(không phân hạng) Angiospermae
(không phân hạng) Eudicots
(không phân hạng) Rosids
Bộ (ordo) Fagales
Họ (familia) Fagaceae
Chi (genus) Quercus
L.
Các loài

Sồi là tên gọi chung của khoảng 400 loài cây gỗ hay cây bụi thuộc chi Quercus của họ Sồi. "Sồi" cũng có thể xuất hiện trong tên gọi của các loài thuộc các chi có quan hệ họ hàng, đáng chú ý là Lithocarpus (sồi đá) hay chi Fagus (còn được gọi là dẻ gai). Chi này là bản địa của Bắc bán cầu, và bao gồm các loài thường xanh hay sớm rụng lá, sinh sống trong khu vực từ các vĩ độ hàn đới tới khu vực nhiệt đới châu Áchâu Mỹ.

Các loài sồi có lá mọc vòng, với mép lá xẻ thùy ở nhiều loài; một số loài có mép lá xẻ khía răng cưa hay mép lá nguyên. Hoa là kiểu đuôi sóc, ra hoa vào mùa xuân. Quả là dạng quả kiên được gọi là quả đấu, mọc ra trong một cấu trúc hình chén; mỗi quả đấu chứa 1 hạt (hiếm khi 2 hay 3) và mất 6–18 tháng để chín, phụ thuộc vào loài. Nhóm sồi thường xanh được phân biệt do nó chứa các loài có lá thường xanh, nhưng trên thực tế không phải là một nhóm khác biệt về mặt phát sinh loài mà thay vì thế nó chứa các loài nằm rải rác và phân tán trong cây phát sinh loài của chi Quercus.

Phân loại[sửa | sửa mã nguồn]

Chi Quercus được phân chia thành 2 phân chi và một loạt các tiết đoạn.

Phân chi Quercus[sửa | sửa mã nguồn]

Phân chi Quercus được chia thành các đoạn:

  • Đoạn Quercus (đồng nghĩa: LepidobalanusLeucobalanus), chứa các loài sồi trắng tại châu Âu, châu ÁBắc Mỹ. Vòi nhụy ngắn; quả đấu chín sau 6 tháng và có vị ngọt hay hơi đắng; bên trong vỏ quả đấu không lông. Lá gần như thiếu gai cứng trên các chóp thùy của chúng, thường là thuôn tròn.
  • Đoạn Mesobalanus, sồi Hungary và các họ hàng tại châu Âu và châu Á. Vòi nhụy dài; quả đấu chín trong khoảng 6 tháng và có vị đắng; bên trong vỏ quả đấu không lông. Đoạn Mesobalanus có quan hệ gần với đoạn Quercus và đôi khi được gộp trong đó.
  • Đoạn Cerris, sồi Thổ Nhĩ Kỳ và các họ hàng tại châu Âu và châu Á. Vòi nhụy dài; quả đấu chín trong 18 tháng và có vị rất đắng; bên trong vỏ quả đấu không lông. Lá của chúng thường có các chóp thùy nhọn, với các gai cứng tại chóp thùy.
  • Đoạn Protobalanus, sồi thường xanh Canyon và các họ hàng, tại tây nam Hoa Kỳ và tây bắc Mexico. Vòi nhụy ngắn, quả đấu chín trong 18 tháng và có vị rất đắng. Bên trong vỏ quả đấu có lông tơ. Lá thường có các chóp thùy nhọn, với các gai cứng tại chóp thùy.
  • Đoạn Lobatae (đồng nghĩa: Erythrobalanus), sồi đỏ tại Bắc Mỹ, Trung Mỹ và miền bắc Nam Mỹ. Vòi nhụy dài, quả đấu chín trong 18 tháng và có vị rất đắng. Bên trong vỏ quả đấu có lông tơ. Quả kiên thật sự được bọc trong lớp da mỏng, bám sát, dạng giấy. Lá thường có các chóp thùy nhọn, với các gai cứng tại thùy.

Phân chi Cyclobalanopsis[sửa | sửa mã nguồn]

  • Sồi với quả dạng chén-vòng tại Đông Á và Đông Nam Á. Cây gỗ thường xanh cao tới 10–40 m. Chúng khác biệt với phân chi Quercus ở chỗ chúng có quả đấu với các chén khác biệt mang các vòng vẩy liên trưởng; chúng cũng có các quả đấu mọc thành cụm dày dặc, mặc dù điều này không đúng với tất cả các loài. Quần thực vật Trung Hoa coi Cyclobalanopsis là một chi khác biệt, nhưng phần lớn các nhà phân loại học khác chỉ coi nó là phân chi của chi Quercus. Nó chứa khoảng 150 loài.
Sồi trắng lai ghép, có lẽ là Quercus stellata × Quercus muhlenbergii.

Liên kết bên ngoài[sửa | sửa mã nguồn]

Hình ảnh[sửa | sửa mã nguồn]