Rùa Trung bộ

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Rùa Trung bộ
Rùa Trung Bộ.jpg
Tình trạng bảo tồn
Phân loại khoa học
Giới (regnum) Animalia
Ngành (phylum) Chordata
Lớp (class) Sauropsida
Reptilia
Bộ (ordo) Testudines
Phân bộ (subordo) Cryptodira
Liên họ (superfamilia) Testudinoidea
Họ (familia) Geoemydidae
Phân họ (subfamilia) Geoemydinae
Chi (genus) Mauremys
Loài (species) Mauremys annamensis
Danh pháp hai phần
Mauremys annamensis
(Siebenrock, 1903)
Danh pháp đồng nghĩa
  • Annamemys annamensis
  • Cyclemys annamensis
  • Annamemys merkleni
  • Ocadia glyphistoma

Rùa Trung bộ (danh pháp khoa học: Mauremys annamensis) là một loài rùa thuộc họ Rùa đầm (Geoemydidae = Bataguridae).

Có thể phân biệt loài rùa này với các loài họ hàng bởi các họa tiết màu: đầu có màu tối với ba hoặc bốn sọc vàng ở bên. Mai rùa có màu vàng hoặc màu da cam với vết đen trên các vảy[1]

Rùa Trung bộ là loài rùa nước ngọt, con trưởng thành nặng khoảng 1 kg đến 2 kg, thường sống ở các đầm lầy và ao, hồ nhỏ[2].

Rùa Trung bộ là loài đặc hữu của một vùng nhỏ ở miền Trung Việt Nam[1]. Loài này được thấy khá nhiều trong những năm 1930 nhưng tất cả các cuộc khảo sát sau năm 1941 đều không cho thấy một cá thể nào sống hoang dã[3].

Do hầu như không bắt gặp loài rùa này bị buôn bán để làm thực phẩm nên loài này hầu như không còn tồn tại trong tự nhiên[4].

Nam 2006, một quần thể rùa Trung bộ hoang dã đã được tìm thấy ở gần Hội An thuộc tỉnh Quảng Nam[3]. Mặc dù rất hiếm, các mẫu vật rùa Trung bộ vẫn được bán ở Trung QuốcHồng Kông, thậm chí còn được nhập cảnh trái phép vào Hoa Kỳ. Một số ít rùa Trung bộ đang được nuôi giữ ở đảo Hải Nam, Trung Quốc[4] cũng như ở Trung tâm Bảo tồn rùa Cúc Phương đóng tại Vườn Quốc gia Cúc Phươngmiền Bắc Việt Nam[5]. Loài này gần như đã tuyệt chủng trong tự nhiên do tình trạng săn bắt trái phép [1].

Một dòng lai giữa rùa Trung bộ với một loài khác thuộc họ Rùa đầm là rùa hộp lưng đen (Cuora amboinensis) đã được phát hiện. Ngoài ra, một loài mới được đề xuất là Ocadia glyphistoma, là con của rùa cổ sọc (Ocadia sinensis) đực với rùa Trung bộ cái, loài lai này có thể được lai ngoài tự nhiên hoặc trong môi trường nuôi giữ.

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ a ă â Asian Turtle Network: Mauremys annamensis. Phiên bản tháng 8 năm 2006. Tra cứu ngày 9-12-2006.
  2. ^ “Phát hiện Rùa Trung bộ ngoài tự nhiên sau 65 năm”. Website Thiennhien.net. Truy cập ngày 13 tháng 7 năm 2010. 
  3. ^ a ă Asian Turtle Network: Mauremys annamensis recorded in natural habitat after 65 years. Phiên bản 7-12-2006. Tra cứu 3-9-2007.
  4. ^ a ă IUCN: Inclusion of Annam Pond Turtle Annamemys (Mauremys) annamensis in Appendix II. Tra cứu 9-12-2006.
  5. ^ Asian Turtle Network: Trung tâm bảo tồn rùa Cúc Phương và các nhà nhân giống liên kết với IUCN. Tra cứu 9-12-2006.

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  • Asian Turtle Trade Working Group (2000). Mauremys annamensis. Sách đỏ 2006. IUCN 2006. Truy cập 3-9-2007.
  • Buskirk James R.; Parham James F. & Feldman Chris R. (2005): On the hybridisation between two distantly related Asian turtles (Testudines: Sacalia × Mauremys). Salamandra, 41: 21-26. toàn văn PDF
  • Parham James Ford; Simison W. Brian; Kozak Kenneth H.; Feldman Chris R. & Shi Haitao (2001): New Chinese turtles: endangered or invalid? A reassessment of two species using mitochondrial DNA, allozyme electrophoresis and known-locality specimens. Animal Conservation 4(4): 357–367.HTML abstract Erratum: Animal Conservation 5(1): 86 tóm tắt HTML

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]