Rối loạn sắc giác

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới điều hướng Bước tới tìm kiếm
Rối loạn sắc giác
US Flag color blind.png
Chuyên khoathần kinh học, khoa mắt
ICD-10H53.5
ICD-9-CM368.5
DiseasesDB2999
MedlinePlus001002
MeSHD003117

Rối loạn sắc giác (thường gọi là mù màu) là rối loạn nhận biết màu sắc. Ví dụ: có người nhầm màu đỏ với màu lục, hoặc có người không phân biệt được các màu mà chỉ thấy đen và trắng ở các sắc thái khác nhau.[1][2] Do đó, nhìn lá cờ Mỹ có thể nhân biết các màu khác hẳn người bình thường (hình 1).

Rối loạn nhận biết màu sắc như thế có khi chỉ kéo dài một thời gian do chấn thương, ngộ độc, ... rồi tự khỏi. Nhưng nếu rối loạn này do di truyền, gây ra hiện tượng gen lặn liên kết X, thì rối loạn này thường được gọi là bệnh mù màu và người bệnh không phân biệt được một số màu sắc, hay gặp nhất là "mù" đỏ và lục.[3][4][5]

Rối loạn sắc giác có thể chia làm hai mức độ là khuyết sắc (không phân biệt được giữa một số màu) và mù màu (hoàn toàn không phân biệt được giữa các màu). Khuyết sắc có thể có loại không phân biệt được giữa màu lục và màu đỏ và loại không phân biệt được giữa màu xanh da trời và màu vàng.

Rối loạn sắc giác
Đồng nghĩaMù màu, color deficiency, impaired color vision[6]
Ishihara 9.png
Ví dụ của một Ishihara color test plate. With properly configured computer displays, people with normal vision should see the number "74". Nhiều người mù màu thấy số "21", và những người bị total color blindness sẽ không thấy số nào.
KhoaOphthalmology
Triệu chứngDecreased ability to see colors[7]
Kéo dàiLong term[7]
Nguyên nhânGenetic (inherited usually X-linked)[7]
Phương thức chẩn đoánIshihara color test[7]
Điều trịAdjustments to teaching methods, mobile apps[6][7]
Tần suấtĐỏ-xanh lá: 8% nam giới, 0.5% nữ giới (Northern European descent)[7]
Wikipedia không phải là một văn phòng y tế Phủ nhận y khoa 

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

Bệnh mù màu, còn được gọi là thiếu thị lực màu, là giảm khả năng nhìn thấy màu sắc hoặc sự khác biệt về màu sắc. [2] Các nhiệm vụ đơn giản như chọn trái cây chín, chọn quần áo và đọc đèn giao thông có thể khó khăn hơn. [2] Bệnh mù màu cũng có thể làm cho một số hoạt động giáo dục trở nên khó khăn hơn. [2] Tuy nhiên, các vấn đề nói chung là nhỏ và hầu hết mọi người thấy rằng họ có thể thích nghi. [2] Những người bị mù màu hoàn toàn (achromatopsia) cũng có thể bị giảm thị lực và không thoải mái trong môi trường sáng.

[8]

Nguồn trích dẫn[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ “Color Vision Deficiency”. 
  2. ^ “Color Blindness”. 
  3. ^ Phạm Thành Hổ: "Di truyền học" - Nhà xuất bản Giáo dục, 1998.
  4. ^ Đỗ Lê Thăng: "Di truyền học" - Nhà xuất bản Giáo dục, 2005.
  5. ^ “color-blind”. 
  6. ^ a ă Gordon N (tháng 3 năm 1998). “Colour blindness”. Public Health 112 (2): 81–4. PMID 9581449. doi:10.1038/sj.ph.1900446. 
  7. ^ a ă â b c d “Facts About Color Blindness”. NEI. Tháng 2 năm 2015. Bản gốc lưu trữ ngày 28 tháng 7 năm 2016. Truy cập ngày 29 tháng 7 năm 2016.  Đã bỏ qua tham số không rõ |url-status= (trợ giúp)
  8. ^ “Color vision deficiency”. 

Đọc thêm[sửa | sửa mã nguồn]

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ “Images: color blind test”.