Siêu axit

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
(đổi hướng từ Siêu axít)
Bước tới: menu, tìm kiếm

Siêu axit có thể định nghĩa như một axit với độ axit lớn hơn của axit sulfuric nồng độ 100%.

Một số siêu axit đơn giản bao gồm axit triflorometansulfonic (CF3SO3H), còn gọi là axit triflic, và axit florosulfuric (FSO3H), cả hai axit này có độ axit hàng nghìn lần mạnh hơn axit sulfuric. Trong nhiều trường hợp, siêu axit không phải là một hợp chất đơn, mà là một hệ của nhiều hợp chất liên kết với nhau để tạo ra độ axit cao.

Thuật ngữ "siêu axit" nguyên thủy được tạo ra bởi James Bryant Conant năm 1927 trong phân loại các axit mà chúng mạnh hơn các axit vô cơ thông thường. George A. Olah đoạt giải Nobel năm 1994 về hóa học [1] vì các nghiên cứu của ông về các siêu axit và công dụng của chúng trong các theo dõi trực tiếp về cacbocation.

"Axit ma thuật" của Olah là tên gọi do khả năng kỳ diệu của chúng để hòa tan sáp nến. Axit ma thuật là hỗn hợp của axit Lewis pentaflorua antimon (SbF5) và axit florosulfuric (axit Bronsted). Hệ siêu axit mạnh nhất đã biết, gọi là axit floroantimonic, là hỗn hợp của axit flohiđricpentaflorua antimon. Trong hệ này, axit flohiđric giải phóng proton (H+), và gốc bazơ liên hợp (F-) bị cô lập một cách có hiệu quả bằng cách tạo ra một liên kết phối hợp rất mạnh với pentaflorua antimon. Kết quả của liên kết này là anion vô cơ lớn (SbF6-), đây là một nucleophil rất yếu và là bazơ rất yếu.

Xem thêm[sửa | sửa mã nguồn]

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]