Siêu nhí Karate

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
The Karate Kid
Karate kid ver2.jpg
Áp phích phim chiếu rạp tại Việt Nam
Đạo diễnHarald Zwart
Sản xuất
Kịch bảnChristopher Murphey
Cốt truyệnRobert Mark Kamen
Diễn viên
Âm nhạcJames Horner
Quay phimRoger Pratt
Dựng phimJoel Negron
Hãng sản xuất
Phát hànhColumbia Pictures
Công chiếu
  • 11 tháng 6, 2010 (2010-06-11)
Độ dài
140 phút[4]
132 phút (phim cắt khi phát hành ở Hong Kong/Trung Quốc)
Quốc giaHoa Kỳ
Trung Quốc
Ngôn ngữTiếng Anh
Tiếng Trung
Kinh phí40 triệu USD[5]
Doanh thu359,126,022 USD[6]

Siêu nhí Karate (chữ Trung Quốc giản thể: 功夫梦; chữ Trung Quốc phồn thể: 功夫夢; bính âm: Gōngfu Meng, nghĩa là: "Công Phu Mộng - The Kung Fu Dream", tên tiếng Anh: The Karate Kid, hay Karate Kid 5) là một bộ phim võ thuật của Mỹ, Trung Quốc hợp tác sản xuất năm 2010 và cũng là phiên bản làm lại từ một bộ phim cùng tên năm 1984. Đây là phần thứ năm của loạt phim Karate Kid.

Bộ phim được chỉ đạo bởi đạo diễn Harald Zwart. Bộ phim được quay tại Bắc Kinh, Trung Quốc; quay phim bắt đầu vào tháng 7 năm 2009 và kết thúc vào ngày 16 tháng 10 năm 2009. The Karate Kid được phát hành tại các rạp ở Mỹ vào ngày 11 tháng 6 năm 2010.

Nội dung[sửa | sửa mã nguồn]

Cốt truyện kể về một cậu bé 12 tuổi mồ côi cha tên Dre Parker sống ở Detroit, Michigan, nhưng phải cùng mẹ chuyển đến sống ở Bắc Kinh, Trung Quốc. Khi chuyển đến đó, cậu làm quen và chơi thân với Mỹ Anh, một cô gái cùng trường. Tuy nhiên cậu cũng bị đám bạn bè côn đồ, đứng đầu là Trình bắt nạt. Chúng còn cho cậu một trận và phải nhờ đến ông Hán, một bậc thầy Kung fu cứu giúp. Lý sư phụ biết tin nên đã bắt Dre phải tham gia ''Giải đấu Kung fu'' hoặc là cậu sẽ ăn đòn. Vì vậy, ông Hán đã dạy cho cậu võ thuật để tự vệ cho mình và tham gia giải đấu. Dre Parker đã luyện tập khá chăm chỉ và trong một lần đi thăm một ngôi đền võ thuật, cậu đã nhìn thấy một võ sư đang điều khiển một con rắn.

Ông Hán chữa lành vết thương cho Dre bằng phương pháp giác hơi bằng lửa của Y học cổ đại Trung Quốc trong khi giải thích rằng Trình và những người bạn của cậu ta không phải là xấu, mà là do sư phụ Lí của họ, người đã dạy các học trò của mình thể hiện "không thương tiếc" đối với kẻ thù của chúng. Bị hấp dẫn, Dre hỏi liệu ông Hán có thể dạy cậu ta Kung Fu hay không. Ông Hán từ chối và thay vào đó đưa cậu đến gặp Lí tại trường quay Fighting Dragon để làm hòa. Lý gay gắt từ chối lời đề nghị giảng hòa và thách thức ông Hán hoặc Dre đánh nhau với Trình. Thay vào đó, ông Hán chấp nhận việc Dre thi đấu một chọi một với các học trò của Lí tại giải Kung Fu mở rộng sắp tới, yêu cầu các học trò của ông để Dre một mình tập luyện cho giải đấu. Lí miễn cưỡng đồng ý với các điều khoản miễn là Dre có mặt tại giải đấu, cảnh báo họ rằng nếu họ vắng mặt, ông ta sẽ đánh họ trọng thương.

Đến một hôm, ông Hán báo nghỉ vì lý do hôm ấy là ngày vợ con ông mất do ông cãi nhau với vợ dẫn đến việc ông mất tập trung và gây ra tai nạn. Dre đã giúp ông lấy lại ý chí để tập với cậu. Và khi thi đấu Kung fu, cậu gặp Trình ở chung kết, nhưng cậu đã bị thương rất nặng. May mắn thay, phương pháp giác hơi của ông Hán đã giúp cậu bớt đau và đánh hòa 2-2 với Trình. Rồi cậu sực nhớ đến chiêu điều khiển rắn của bà võ sư và thắng Trình với tỉ số 3-2. Dre trở về cùng chiếc cúp và niềm tự hào của ông Hán.

Ông Hán hứa sẽ dạy Dre Kung Fu và bắt đầu huấn luyện anh ta bằng cách nhấn mạnh các động tác áp dụng cho cuộc sống nói chung. Ông truyền tải rằng sự thanh thản và trưởng thành, chứ không phải những cú đấm và sức mạnh, mới là chìa khóa thực sự để làm chủ võ thuật. Ông dạy điều này bằng cách để Dre thực hiện các chuyển động lặp đi lặp lại bằng cách sử dụng áo khoác của mình, giúp Dre phát triển trí nhớ cơ bắp. Ông Hán đưa Dre đến một ngôi đền Đạo giáo trên núi Võ Đang. Ở đó, Dre chứng kiến ​​một người phụ nữ làm rắn hổ mang phản ánh chuyển động của cô ấy và sau đó uống nước từ một giếng cổ của Đạo giáo. Sau nhiều tuần luyện tập mệt mỏi và vất vả, ông Hán sẽ sớm cho Dre một ngày nghỉ. Dre đến gặp Mỹ Anh, thuyết phục cô ấy nghỉ học cho một ngày vui vẻ. Cô ấy đã gần đến muộn cho một buổi thử giọng violin đã được đẩy lên một ngày mà cô ấy không hề hay biết. Do đó, cha mẹ cô cho rằng Dre là một người có ảnh hưởng xấu và cấm cô gặp lại cậu ta.

Diễn viên[sửa | sửa mã nguồn]

Sản xuất[sửa | sửa mã nguồn]

Phát triển[sửa | sửa mã nguồn]

Vào ngày 10 tháng 11 năm 2008, Variety đưa tin rằng công việc làm lại Karate Kid đã bắt đầu. Variety tuyên bố rằng bộ phim mới do Will Smith sản xuất "đã được tân trang lại như một phương tiện ngôi sao cho Jaden Smith" và nó sẽ "mượn các yếu tố từ cốt truyện gốc, trong đó một thanh niên bị bắt nạt học cách tự đứng lên với sự giúp đỡ của một người cố vấn lập dị." Vào ngày 22 tháng 6 năm 2009, Thành Long nói với một đám đông buổi hòa nhạc ở Phố Tàu ở Los Angeles rằng anh sẽ đến Bắc Kinh để quay bộ phim làm lại với tư cách là giáo viên của Jaden Smith.

Mặc dù vẫn giữ nguyên tựa gốc nhưng bản làm lại năm 2010 không có môn võ karate đến từ Okinawa (Nhật Bản) mà tập trung vào việc nhân vật chính học kung fu ở Trung Quốc. Thành Long nói với những người phỏng vấn rằng các thành viên trong phim thường gọi bộ phim là The Kung Fu Kid , và anh ấy tin rằng bộ phim sẽ chỉ được gọi là The Karate Kid ở Mỹ, và The Kung Fu Kid ở Trung Quốc. Giả thuyết này đúng ở Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa, nơi bộ phim có tựa là Giấc mơ Kung Fu ( tiếng Trung :功夫 梦). Ở Nhật Bản  và Hàn Quốc, Bộ phim được đặt tên là Best Kid (Tiếng Nhật :ベ ス ト ・ キ ッ ド; Tiếng Hàn : 베스트 키드) theo tên địa phương của bộ phim năm 1984 ở cả hai quốc gia.

Sony đã cân nhắc việc thay đổi tiêu đề của bộ phim, nhưng Jerry Weintraub, một trong những nhà sản xuất, đã bác bỏ ý kiến ​​này. Weintraub cũng là nhà sản xuất của Karate Kid gốc .

Quay phim[sửa | sửa mã nguồn]

Chính phủ Trung Quốc đã cho phép các nhà làm phim tiếp cận Tử Cấm Thành , Vạn Lý Trường Thành và Dãy núi Võ Đang . Trong một số trường hợp, các nhà làm phim đã phải thương lượng với những cư dân không quen với hoạt động quay phim.  Phim bắt đầu được quay vào tháng 7 năm 2009.

Giải thưởng[sửa | sửa mã nguồn]

J-14 Teen Icon Awards 2010

  • Iconic Movie (Đề cử)
  • Iconic Movie Actor – Jaden Smith (Đề cử)

People's Choice Awards 2011

  • Favorite Family Movie (Đề cử)
  • Favorite On-Screen Team – Jaden Smith & Thành Long (Đề cử)
  • Favorite Action Star – Thành Long (Đoạt giải)

2011 Kids' Choice Awards

  • Favorite Movie (Đoạt giải)
  • Favorite Buttkicker (Thành Long) (Đoạt giải)
  • Favorite Movie Actor (Jaden Smith) (Đề cử)

2011 MTV Video Music Aid Japan

  • Best Song from a Movie ("Never Say Never" trình bày bởi Justin Bieber với sự diễn xuất của Jaden Smith) (Đề cử)

2011 MTV Movie Awards

32nd Young Artist Awards

  • Best Leading Young Actor in a Feature Film (Jaden Smith) (Đoạt giải)

2010 Teen Choice Awards

  • Choice Summer: Movie (Đề cử)

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ “The Karate Kid”. AFI Catalog of Feature Films. Truy cập ngày 13 tháng 1 năm 2020.
  2. ^ a b c d “The Karate Kid (2010) - Financial Information”. The Numbers. Truy cập ngày 1 tháng 6 năm 2021.
  3. ^ a b “The Karate Kid (2010)”. BFI. Truy cập ngày 21 tháng 12 năm 2020.
  4. ^ “THE KARATE KID rated PG by the BBFC”. bbfc. Bản gốc lưu trữ ngày 16 tháng 7 năm 2010. Truy cập ngày 11 tháng 6 năm 2010.
  5. ^ Fritz, Ben (ngày 10 tháng 6 năm 2010). “Movie projector: 'The Karate Kid' and 'The A-Team' fight it out in battle of the '80s”. Los Angeles Times. Truy cập ngày 20 tháng 6 năm 2014.
  6. ^ The Karate Kid (2010), Box Office Mojo.

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]