Sojourner Truth

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Buớc tưới chuyển hướng Bước tới tìm kiếm
Sojourner Truth
Sojourner Truth, 1870 (cropped, restored).jpg
k. 1870
SinhIsabella Baumfree
k.  1797
Swartekill, New York, Hoa Kỳ
Mất (86 tuổi)
Battle Creek, Michigan, Hoa Kỳ
Nghề nghiệpBãi bỏ, Tác giả, Nhà hoạt động nhân quyền
Cha mẹJames Baumfree
Elizabeth Baumfree

Sojourner Truth (/sˈɜːrnər ˈtrθ/; sinh ra Isabella [ Belle ] Baumfree; k. 1797 - 26/11/1883) là một nhà hoạt động bãi bỏ nô lệ và ủng hộ quyền phụ nữ người Mỹ gốc Phi. Truth được sinh ra thành nô lệ ở Swartekill, hạt Ulster, New York, nhưng đã trốn thoát cùng với đứa con gái sơ sinh của mình để trở thành tự do vào năm 1826. Sau khi ra tòa để giành lại con trai vào năm 1828, bà đã trở thành người phụ nữ da đen đầu tiên thắng vụ kiện như vậy trước một người đàn ông da trắng.

Bà đã đặt cho mình cái tên Sojourner Truth vào năm 1843 sau khi bà tin rằng Chúa đã kêu gọi bà rời khỏi thành phố và tới các vùng nông thôn "làm chứng cho niềm hy vọng ở trong mình".[1] Bài phát biểu nổi tiếng nhất của bà đã được đưa ra ngay lập tức, vào năm 1851, tại Hội nghị Quyền phụ nữ Ohio ở Akron, Ohio. Bài phát biểu được biết đến rộng rãi trong cuộc Nội chiến với tựa đề " Tôi không phải là phụ nữ? ", Một biến thể của bài phát biểu gốc được viết lại bởi một người khác sử dụng một phương ngữ phương Nam rập khuôn, trong khi Sojourner Truth đến từ New York và lớn lên nói tiếng Hà Lan như ngôn ngữ đầu tiên. Trong cuộc nội chiến, Truth đã giúp tuyển mộ quân da đen cho Quân đội Liên minh; Sau chiến tranh, bà đã cố gắng không thành công để đảm bảo các khoản trợ cấp đất đai từ chính phủ liên bang cho các nô lệ trước đây (được tóm tắt là lời hứa của " bốn mươi mẫu đất và một con la ").

Vào năm 2014, Truth đã được đưa vào danh sách "100 người Mỹ quan trọng nhất mọi thời đại" của tạp chí Smithsonian.[2]

Tuổi thơ[sửa | sửa mã nguồn]

Nhà của Đại tá Julian Hardenbergh

Truth là một trong số 10 hoặc 12 [3] đứa trẻ được sinh ra với cha là James và mẹ là Elizabeth Baumfree (hoặc Bomefree). Đại tá Hardenbergh đã mua James và Elizabeth Baumfree từ người buôn bán nô lệ và giữ gia đình của họ tại điền trang của mình trong một khu vực đồi núi lớn gọi bằng cái tên Hà Lan Swartekill (ngay phía bắc ngày nay rifton), tại thị trấn Esopus, New York, 95 dặm (153 km) về phía bắc thành phố New York.[4] Charles Hardenbergh được thừa hưởng gia sản của cha mình và tiếp tục giữ nô lệ cũ như một phần tài sản của gia sản đó.[5]

Khi Charles Hardenbergh qua đời vào năm 1806, Truth, chín tuổi (được biết đến với cái tên Belle), bị bán đi tại một cuộc đấu giá với một đàn cừu để đổi lại 100 đô la sang chủ mới là John Neely, gần Kingston, New York. Cho đến lúc đó, Truth chỉ nói tiếng Hà Lan.[6] Sau đó, cô mô tả Neely là tàn nhẫn và khắc nghiệt, liên quan đến cách ông ta đánh cô hàng ngày và một lần dùng cả một bó gậy để quật cô. Năm 1808, Neely đã bán cô với giá 105 đô la cho người quản lý quán rượu Martinus Schryver ở Port Ewen, New York, người sở hữu cô trong 18 tháng. Schryver sau đó đã bán Truth vào năm 1810 cho John Dumont ở West Park, New York.[7] Mặc dù chủ sở hữu thứ tư này đã tử tế với cô, nhưng căng thẳng đáng kể tồn tại giữa vợ của Truth và Dumont, Elizabeth Waring Dumont. Bà đã quấy rối cô và khiến cuộc sống của cô trở nên khó khăn hơn.[8]

Vào khoảng năm 1815, Truth gặp và yêu một người đàn ông nô lệ tên Robert từ một trang trại lân cận. Chủ sở hữu của Robert (Charles Catton, Jr., một họa sĩ phong cảnh) đã cấm mối quan hệ của họ; anh ta không muốn những người là nô lệ của mình có con với những người mà không phải là nô lệ, vì anh ta sẽ không sở hữu những đứa trẻ đó. Một ngày nọ, Robert lẻn đến gặp Truth. Khi Catton và con trai tìm thấy anh ta, họ đã đánh đập dã man Robert cho đến khi cuối cùng Dumont can thiệp. Truth không bao giờ gặp lại Robert sau ngày hôm đó và anh ta chết vài năm sau đó.[9] Trải nghiệm này ám ảnh Truth suốt cuộc đời cô. Truth cuối cùng kết hôn với một người đàn ông nô lệ lớn tuổi tên Thomas. Cô sinh năm đứa con: James, con đầu lòng đã chết trong thời thơ ấu, Diana (1815), kết quả của một vụ hãm hiếp của John Dumont, và Peter (1821), Elizabeth (1825) và Sophia (khoảng năm 1826), tất cả được sinh ra sau khi cô và Thomas kết hôn.[10]

Tự do[sửa | sửa mã nguồn]

Năm 1799, Tiểu bang New York bắt đầu lập pháp bãi bỏ chế độ nô lệ, mặc dù quá trình giải phóng những người nô lệ ở New York chưa hoàn tất cho đến ngày 4 tháng 7 năm 1827. Dumont đã hứa sẽ trao cho Truth tự do một năm trước khi nhà nước giải phóng, "nếu cô ấy làm tốt và trung thành." Tuy nhiên, Dumont đổi ý, cho rằng một vết thương ở tay đã khiến cô giảm năng suất. Cô tức giận nhưng vẫn tiếp tục làm việc, quay 100 pound len, để thỏa mãn nghĩa vụ của mình với ông chủ.  

Cuối năm 1826, Truth trốn thoát với cô con gái sơ sinh của mình, Sophia. Cô phải bỏ lại những đứa con khác của mình vì chúng không được giải thoát một cách hợp pháp trong lệnh giải phóng cho đến khi chúng phục vụ như những người hầu bị ràng buộc ở tuổi đôi mươi. Sau đó, cô nói "Tôi đã không chạy trốn, vì tôi nghĩ điều đó thật xấu xa, nhưng tôi đã bỏ đi, tin rằng điều đó là ổn." [6]

Cô tìm đường đến nhà của Isaac và Maria Van Wagenen ở New Paltz, người đã nhận cô và em bé. Isaac đề nghị mua dịch vụ của cô ấy cho đến hết năm (cho đến khi việc giải phóng nhà nước có hiệu lực), được Dumont chấp nhận với giá 20 đô la.[6] Cô sống ở đó cho đến khi Đạo luật Giải phóng Nhà nước New York được phê duyệt một năm sau đó.  

Truth đã biết rằng con trai cô, Peter, khi đó năm tuổi, đã bị Dumont bán trái phép cho một chủ sở hữu ở Alabama. Với sự giúp đỡ của Van Wagenens, cô đã đưa vấn đề ra tòa và vào năm 1828, sau nhiều tháng tiến hành tố tụng, cô đã lấy lại được con trai mình, người đã bị bắt làm nô lệ.[5] Truth trở thành một trong những phụ nữ da đen đầu tiên ra tòa chống lại một người đàn ông da trắng và thắng kiện.[11][12]

Tác phẩm[sửa | sửa mã nguồn]

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ The Norton Anthology of African American Literature, 3rd Edition, Vol 1
  2. ^ "Meet the 100 Most Significant Americans of All Time". The Smithsonian. ngày 17 tháng 11 năm 2014. Truy cập ngày 14 tháng 9 năm 2015.
  3. ^ The "ten or twelve" figure is from the section "Her brothers and sisters" in the Narrative (p. 10 in the 1998 Penguin Classics edition edited by Nell Irvin Painter); it is also used in Painter's biography, Sojourner Truth: A Life, A Symbol (Norton, 1996), p. 11; and in Carleton Mabee with Susan Mabee Newhouse's biography, Sojourner Truth: Slave, Prophet, Legend (New York University Press, 1993), p. 3.
  4. ^ Whalin, W. Terry (1997). Sojourner Truth. Barbour Publishing, Inc. ISBN 978-1-59310-629-4. 
  5. ^ a ă “Amazing Life page”. Sojourner Truth Institute site. Bản gốc lưu trữ ngày 26 tháng 6 năm 2013. Truy cập ngày 28 tháng 12 năm 2006. 
  6. ^ a ă â “WOMEN IN HISTORY – SOJOURNER TRUTH”. Women in History Ohio. Ngày 27 tháng 2 năm 2013. Truy cập ngày 10 tháng 3 năm 2017. 
  7. ^ “State University of New York at New Paltz”. On the trail of Sojourner Truth in Ulster County, New York by Corinne Nyquist Librarian, Sojourner Truth Library. Truy cập ngày 6 tháng 3 năm 2008. 
  8. ^ Washington, Margaret (2009). Sojourner Truth's America. Urbana: Illinois. tr. 39–53. ISBN 9780252034190. 
  9. ^ “The Narrative of Sojourner Truth”. Digital.library.upenn.edu. Truy cập ngày 18 tháng 9 năm 2017. 
  10. ^ Nell Irvin Painter, Sojourner Truth: A Life, A Symbol (Norton, 1996), p. 19, and Margaret Washington, "Sojourner Truth's America" (Illinois, 2009), 51–52.
  11. ^ “Sojourner Truth Biography”. Encyclopedia of World Biography. Advameg, Inc. 
  12. ^ “Slavery and Indentured Servants:Law Library of Congress”. loc.gov. 

Đọc thêm[sửa | sửa mã nguồn]

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]