Tàu khu trục lớp Abukuma

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm

Tàu khu trục lớp Abukuma (tiếng Nhật: あぶくま型護衛艦) là một lớp tàu khu trục hộ tống (DE) thuộc biên chế của Lực lượng Phòng vệ trên biển Nhật Bản (JMSDF). Tất cả các tàu thuộc lớp Abukuma đều được đặt lại theo tên những tuần dương hạm Hải quân Đế quốc Nhật Bản (IJN) trong Chiến tranh thế giới thứ hai và hiện tất cả vẫn còn đang hoạt động. Abukuma vốn là tên của một con sông tại khu vực Tōhoku của Nhật Bản.

Thiết kế[sửa | sửa mã nguồn]

Vào năm Showa 60, các tướng lĩnh JMSDF đã đề xuất việc thiết kế một lớp tàu khu trục hộ tống mới nhằm thay thế cho các tàu lớp Isuzu kiểu cũ đang dần được loại biên. Chương trình phát triển tàu khu trục mới đã được Chính phủ Nhật tiến hành phê chuẩn ngân sách tài chính vào năm Showa 61. Dựa trên những đề xuất của JMSDF, Mitsui Engineering & Shipbuilding và Sumitomo Heavy Industries đã tiến hành chương trình phát triển lớp tàu khu trục mới dựa trên cơ sở tàu khu trục lớp Yubari thế hệ trước với nhiều cải tiến và định danh là lớp Abukuma. Tàu được kế thừa hầu hết các công nghệ điện tử, hệ thống vũ khí chống tàu mặt nước (ASuW) của lớp Yubari và tích hợp thêm khả năng chống ngầm (ASW) của lớp Chikugo.

Abukuma là lớp tàu chiến đầu tiên của JMSDF được áp dụng công nghệ tàng hình. Cấu trúc thượng tàng của tàu được làm bằng hợp kim nhôm - magnesium và có bề mặt thẳng đứng hầu như giống hệt với các lớp tàu khu trục hộ tống cũ vốn có tính năng tàng hình hạn chế. Thiết kế của tàu được thực hiện với các mặt phẳng truyền thống với 12 khoang không thấm nước, khả năng tàu vẫn hoạt động tốt nếu có 3 khoang bị trúng đạn tách rời nhau. Thân tàu được thiết kế hình chữ V, hai bên sườn và thân tàu của Abukuma được chế tạo từ thép, đồng thời các tấm hợp kim vỏ tàu được thiết kế tạo góc cạnh luân phiên, tránh tạo bề mặt phẳng lớn giúp chỉ số RCS ở mức thấp khiến radar của đối phương khó phát hiện. Bên cạnh đó, boong tàu cũng được thiết kế theo kiểu dốc nghiêng xuống với chất liệu là hợp kim cũng giúp hạn chế tối đa sự phản xạ của sóng radar thông thường.

Định kỳ hàng năm, các tàu lớp Abukuma sẽ được khử từ bằng cách quấn quanh thân tàu những sợi cáp điện. Mục đích của quá trình này là triệt tiêu từ trường bên ngoài thân tàu, giảm độ bộc lộ trước các hệ thống trinh sát tầm xa của đối phương. Bên cạnh đó, vỏ thép của tàu được khử từ cũng khó kích nổ mìn cảm ứng, giúp các tàu Abukuma tăng khả năng sống sót tại các vùng biển bị rải mìn. Quá trình khử từ cho một tàu thường kéo dài từ 7 - 10 ngày liên tục tại cảng bảo dưỡng. Ngoài ra, Abukuma cũng là lớp tàu DE đầu tiên được trang bị radar định vị phát hiện mục tiêu trên không tầm xa và hệ thống định hướng chiến đấu OYQ-7. 

Ban đầu JMSDF lên kế hoạch đóng 11 tàu lớp Abukuma nhưng cuối cùng chỉ có 6 chiếc hoàn thành. Chiếc đầu tiên của lớp, DE-229 JS Abukuma hạ thủy ngày 17 tháng 3 năm 1988, vào biên chế ngày 12 tháng 12 năm 1989 trong khi chiếc cuối cùng DE-234 hạ thủy ngày 8 tháng 2 năm 1991 và chính thức biên chế ngày 8 tháng 2 năm 1993.Các tàu lớp Abukuma có lượng giãn nước tiêu chuẩn 2.000 tấn, đầy tải 2.500 tấn; dài 109m; rộng 13m, mớn nước 3,7m. Tàu có đội ngũ thủy thủ đoàn khoảng 120 người. Tàu có nhiệm vụ chủ yếu là chống ngầm. Abukuma cũng có thể được triển khai tác chiến chống tàu mặt nước của đối phương ở khu vực ven bờ. [1][2]

Cảm biến / radar[sửa | sửa mã nguồn]

Abukuma được lắp đặt hệ thống định hướng chiến đấu OYQ-7, hệ thống máy tính này cung cấp khả năng tính toán siêu tốc cho phép tàu khu trục lớp Abukuma đối phó hiệu quả với các mục tiêu, đặc biệt là các mục tiêu dưới nước. Hệ thống thông tin liên lạc cấp chiến thuật Link-14 (STANAG 5514) giúp Abukuma có thể dễ dàng kết nối thông tin với tất cả các tàu chiến cũng như các thiết bị quân sự khác thuộc Lực lượng Phòng vệ Nhật Bản (JSDF) và đồng minh.

Các bộ cảm biến của tàu bao gồm radar định vị phát hiện mục tiêu trên không tầm xa OPS-14C (chức năng tương đương với radar AN/SPS-49 do Mỹ sản xuất), radar định vị nhận dạng và theo dõi mục tiêu mặt nước OPS-28-C (tương đương với radar AN/Mk-32 của Mỹ), radar chuyển hướng, dẫn đường OPS-20, radar điều khiển hỏa lực FCS-2-12 do Nhật tự sản xuất dùng để dẫn bắn tên lửa phòng không chuyên dụng tầm trung RIM-7 Sea Sparrow, radar điều khiển hỏa lực FCS-2-21A dùng để dẫn bắn cho pháo hạm 76mm Mk-75, và radar điều khiển hỏa lực Mk 90 của General Dynamics cho hệ thống CIWS Mk-15 Phalanx.

Năng lực chống ngầm của Abukuma không mạnh như các lớp tàu khu trục khác của JMSDF khi chỉ được trang bị sonar kết hợp chủ/bị động phát hiện và xác định vị trí tàu ngầm OQS-8 (tương đương với sonar DE-1167 của Mỹ). OQS-8 là loại sonar hoạt động trên tần số trung bình. Anten của OQS-5 được được gắn cố định trong quả cầu hình giọt nước ở mũi tàu, anten được tách rời khỏi các khoang trên tàu bằng bộ phận cách âm, giảm tối thiểu nhiễu thủy âm khi sonar hoạt động. JMSDF từng có kế hoạch bổ sung thêm sonar kiểu mảng kéo cho tàu nhưng cho đến nay công việc vẫn chưa được triển khai.

Phương thức "bảo vệ mềm" (soft-kill) của Abukuma bao gồm các hệ thống chiến tranh điện tử tích hợp ESM NOLR-8 và OLT-3 ECM của Fujitsu và hệ thống mồi bẫy Mk-137 SRBOC (4 giá x18-ống phóng bố trí ở giữa thân tàu). Hệ thống này được cấu thành bởi hai bộ phận chính là trinh sát điện tử và gây nhiễu điện tử. Hệ thống chiến tranh điện tử NOLQ-8 được điều khiển bởi một máy tính tốc độ cao có khả năng xử lý, quản lý hàng nghìn phép tính/giây và được vận hành bằng phương thức tự động hoặc bán tự động. Trong đó, bộ phận trinh sát điện tử sử dụng băng tần hỗ hợp nên có khả năng mở rộng dải trinh sát với độ chính xác lên tới 1 độ và phạm vi bao phủ 360 độ. Còn bộ phận gây nhiễu điện tử được cấu thành bởi 4 annten, mỗi anten có khả năng tác nghiệp một goc 90 độ với tổng cộng 140 dải tần số khác nhau. Hệ thống này có thể cùng một lúc gây nhiễu đối với 80 bộ radar với thời gian phản ứng trước các tình huống cực ngắn.

Hệ thống Mk-137 SRBOC thường kết hợp với hệ thống chiến tranh điện tử NOLQ-8. Mk-137 SRBOC được bắt đầu đưa vào trang bị từ năm 1976, với bán kính tác chiến gây nhiễn là 4 km; công suất gây nhiễu từ 7 - 8 kW; công suất gây nhiễu hồng ngoại từ 3 - 5 kW; độ cao tác chiến là 150m, độ trễ là 3,5 - 0,5 giây; thời gian hình thành khu vực gây nhiễu là 8,5 giây; thời gian hình thành tường hồng ngoại gây nhiễu là 6 giây. Cơ chế hoạt động của Mk-137 đó là phóng ra các quả rocket chứa nhiều lá nhôm để tạo các mục tiêu giả qua đó đánh lừa hệ thống đầu dò mục tiêu trên tên lửa của đối phương, từ đó khiến tên lửa đối phương bắn nhầm mục tiêu.

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]