Tân Chánh

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
(đổi hướng từ Tân Chánh, Cần Đước)
Buớc tưới chuyển hướng Bước tới tìm kiếm

Tân Chánh

Hành chính
TỉnhLong An
HuyệnCần Đước
Địa lý
Tọa độ: 10°27′44″B 106°36′26″Đ / 10,46222°B 106,60722°Đ / 10.46222; 106.60722Tọa độ: 10°27′44″B 106°36′26″Đ / 10,46222°B 106,60722°Đ / 10.46222; 106.60722
Diện tích17,45 km²[1]
Dân số (2013)
Tổng cộng13400 người[1]
Mật độ768 người/km²
Khác
Mã hành chính28156[2]
Mã bưu chính852950
Số điện thoại0723-881-080

Tân Chánh là một vùng hạ của huyện Cần Đước, tỉnh Long An, Việt Nam, cách thị trấn Cần Đước 6 km về phía Nam, có phía Bắc giáp xã Tân Ân, phía Nam giáp sông Vàm Cỏ và đối diện xã Bình Xuân (Gò Công, Tiền Giang), phía Tây giáp sông Vàm Cỏ và xã Thuận Mỹ, phía Đông Bắc giáp Vàm Mương Cống Huỳnh và xã Phước Đông.

Xã Tân Chánh có diện tích tự nhiên là 1744,67 ha, trong đó diện tích đất đông nghiệp là 1103,91 ha, đất phi nông nghiệp chiếm 541,35 ha, đất chưa sử dụng là 4,84 ha và đất khu dân cư nông thôn là 94,57 ha. Dân số xã tính đến cuối năm 2013 có hơn 13400 người với khoảng 2689 hộ, mật độ dân số đạt 768 người/km².

Hành chính[sửa | sửa mã nguồn]

Tân Chánh hiện tại có 7 ấp, bao gồm: ấp Đình, ấp Lăng, ấp Đông Nhất, ấp Đông Nhì, ấp Đông Trung, ấp Hoà Quới và ấp Bà Nghĩa. Trong đó ấp Đông Trung là trung tâm của xã - nơi đặt trụ sở Uỷ ban nhân dân (UBND), trạm y tế, bưu điện văn hoá xã, trường Mẫu giáo, trường Tiểu học Tân Chánh 1, trường THCS Tân Chánh, chợ Tân Chánh.

Ban lãnh đạo UBND xã Tân Chánh gồm các ông/bà[3] sau:

  1. Ông Võ Nguyên Chí, Chủ tịch UBND xã, phụ trách chung;
  2. Ông Nguyễn Trọng Tuyên, Phó Chủ tịch UBND xã, phụ trách mảng Kinh tế;
  3. Huỳnh Thị Kim Chi, Phó Chủ tịch UBND xã, phụ trách mảng Văn hoá-Xã hội.

Địa hình[sửa | sửa mã nguồn]

Địa hình xã Tân Chánh bị chia cắt bởi hệ thống kênh rạch chằng chịt và được bao bọc bởi sông Vàm Cỏ ở ba phía: Tây, Nam và Đông Nam. Đất ở đây bị nhiễm mặn, phèn từ lâu đời, chỉ canh tác được một vụ lúa một năm năng suất thấp. Chính điều này đã làm cho người dân trong xã gặp nhiều khó khăn trong việc sản xuất nông nghiệp lúa nước. Tuy nhiên, với địa hình được bao bọc bởi các con sông lớn nên rất thuận lợi cho việc đi lại và giao lưu mua bán bằng đường thuỷ, chính vì vậy mà nghề đi ghe phát triển rất sớm ở Tân Chánh.

Giao thông[sửa | sửa mã nguồn]

Hệ thống giao thông nông thôn trong suốt thời gian chiến tranh không được quan tâm xây dựng và khó phát triển vì bị ngập bởi triều cường, nên cư dân đi lại chủ yếu bằng ghe, xuồng. Ngày nay, nhờ được sự quan tâm của chính quyền địa phương và người dân, hệ thống đường giao thông trục xã, liên xã, liên ấp, đường trục chính nội đồng và đường trong khu trung tâm xã được hoàn thiện mở rộng.

Xã có hương lộ 24 chạy qua, nên thuận lợi cho nhân dân trong xã giao lưu, buôn bán và học tập kinh nghiệm từ các vùng lân cận.

Dân cư[sửa | sửa mã nguồn]

Dân cư Tân Chánh phân bố không đều ở các ấp, sống tập trung dọc theo Đường huyện 24, các tuyến giao thông chính của xã, ven hệ thống sông rạch trong xã, như: rạch Thông Lưu (Sông Lưu), rạch Ông Nhu, rạch Mương Bần, sông Cây Mắm, vàm Bà Nghĩa đến rạch Ông Thuộc, số còn lại sống phân tán trong đồng ruộng.

Tỉ lệ gia tăng dân số tự nhiên xã Tân Chánh là 1,1%. Đa số người dân nơi đây tham gia vào hoạt động kinh tế nông nghiệp (80%).

Kinh tế[sửa | sửa mã nguồn]

Tình hình kinh tế[1][sửa | sửa mã nguồn]

Cơ cấu kinh tế xã Tân Chánh theo thống kê năm 2011: nông nghiệp chiếm 81,4%, thương mại - dịch vụ chiếm 18% và công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp là 0,6%.

Thu nhập bình quân đầu người năm 2011 đạt 16,5 triệu đồng/người/năm. Số hộ nghèo trong xã là 172 hộ, chiếm 6,3%.

Các hoạt động sinh kế ở xã Tân Chánh[4][sửa | sửa mã nguồn]

Các hoạt động sinh kế truyền thống ở Tân Chánh[sửa | sửa mã nguồn]

Hoạt động trồng lúa[sửa | sửa mã nguồn]

Trong 10 năm đầu kể từ ngày giải phóng, Tân Chánh tập trung khôi phục diện tích đất nông nghiệp bị bỏ hoang trong thời chiến, đồng thời mở rộng diện tích trồng lúa từ diện tích đất ven sông rạch.

Từ 1986 - 1993, trước khi chuyển qua nuôi tôm, 70% người dân Tân Chánh dựa hoàn toàn vào trồng lúa nước một vụ (do điều kiện môi trường 6 tháng nước ngọt, 6 tháng nước mặn), số còn lại đi ghe và làm nghề khác.

Toàn xã có gần 900 ha đất nông nghiệp bạc màu, năng suất lúa 25 tấn/ha nhưng rất bấp bênh.

Hoạt động đi ghe[sửa | sửa mã nguồn]

Nghề đi ghe ở Tân Chánh ra đời vào nửa đầu thế kỉ XIX hoặc sớm hơn và phát triển đặt trong bối cảnh chung của huyện Cần Đước cũng như ở Nam bộ gắn liền với quá trình Nam tiến của cư dân người Việt ở miền Bắc, miền Trung vào khai phá vùng đất này. Tuy nhiên, phải đợi đến cuối thế kỉ XIX, hoạt động này mới thật sự chiếm một vị trí quan trọng trong cơ cấu kinh tế địa phương, đặc biệt là sau ảnh hưởng của vụ mất mùa năm 1978, số người đi ghe tăng lên vì nghề trồng lúa không mang lại hiệu quả.

Các mặt hàng vận chuyển buôn bán thường là lúa, dừa, chuối, bắp, đồ gốm như lu, hũ, chén, bát, đồ sành, sứ, nhôm, nhựa, một số ghe lớn thì chở cát. Các mặt hàng chủ yếu lấy ở Lái Thiêu, Biên Hoà, Sài Gòn chở về các tỉnh Tây Nam Bộ. Hàng hoá thường bán ngay trên ghe, tại các khu vực chợ nổi ở các địa phương.

Trong những năm gần đây, số người đi ghe giảm do chuyển qua phương tiện mới như xà lan, tàu kéo, số khác ở nhà nuôi tôm hoặc làm các nghề khác. Các hộ làm nghề đi ghe hiện nay chủ yếu chuyên chở vật liệu xây dựng, chở thuê hàng hoá, đi bán hàng tạp hoá và các lu, kiệu đựng nước cho các tỉnh phía dưới của vùng đồng bằng sông Cửu Long

Các hoạt động sinh kế hiện nay[sửa | sửa mã nguồn]

Nuôi tôm[sửa | sửa mã nguồn]

Con tôm sú được đưa vào nuôi thử nghiệm ban đầu khoảng 2,1 ha với 6 hộ tham gia theo mô hình quảng canh cải tiến lúa - tôm. Sau hơn 3 tháng nuôi, thu hoạch được 180 kg/ha, tỉ lệ hộ lãi trên 70%, mang lại hiệu quả cao gấp 10 lần so với trồng lúa. Kết quả thử nghiệm thành công, nông dân rất phấn khởi.

Diện tích đất nuôi tôm ngày càng được nâng lên, từ 2,1 ha (năm 1993) đến 56 ha (năm 1994) rồi 515 ha (năm 1998) cho đến năm 2000 diện tích đất nuôi tôm ở xã Tân Chánh tăng lên đến 743 ha với 1217 hộ nuôi, năng suất đạt 400 kg/ha, tăng 309 kg/ha so với năm 1998. Ở thời điểm này, giá con giống và giá vật tư thuỷ sản tương đối thấp, trong khi giá con tôm thịt có khi lên đến 130000 đồng/kg nên lợi nhuận tương đối cao.

Tuy nhiên giai đoạn 2004 - 2013, dù năng suất vẫn ổn định ở mức cao từ 450 – 800 kg/ha nhưng giá đầu vào liên tục tăng, thị trường tiêu thụ khó, giá tôm lại giảm mạnh làm nhiều hộ nuôi bị lỗ vốn.

Trải qua hơn 20 năm chuyển dịch ngành nghề mà cụ thể là việc đưa con tôm vào đồng ruộng ngập mặn đã góp phần nâng cao đời sống người dân, làm thay đổi đáng kể bộ mặt nông thôn của xã.

Đi xà lan[sửa | sửa mã nguồn]

Theo thống kê, từ năm 1996 trở về trước, chỉ có một số gia đình đi xà lan, đa số làm ruộng và đi ghe. Từ năm 2000 trở lại đây, ngoài hoạt động nuôi tôm thu hút hầu hết người dân, thì hoạt động đi xà lan cũng thu hút một bộ phận người dân Tân Chánh tham gia. Hầu hết những người đi ghe trước đây nay đã chuyển qua phương tiện lớn hơn là xà lan, hoặc những người vốn đi xà lan từ trước nay đầu tư mua thêm.

Việc đi xà lan đã thu hút số lượng lao động ở Tân Chánh tham gia, góp phần vào việc giải quyết nhu cầu lao động tại địa phương. Công việc trôi chảy, hàng hoá nhiều, giá xăng dầu rẻ, lãi suất ngân hàng cũng khá mềm nên mỗi tháng một chiếc xà lan chuyên chở, sau khi trừ chi phí còn lãi được trên dưới một trăm triệu đồng.

Việc kinh doanh của các chủ xà lan ở Tân Chánh khá phát đạt, việc trả nợ ngân hàng đầy đủ, đúng hạn, nhiều hộ dân xây nhà biệt thự, mua thêm nhà cửa, xe ô tô.

Làm công nhân[sửa | sửa mã nguồn]

Hiện nay ở Tân Chánh có trên dưới 1000 phụ nữ đi làm công nhânBến Lức, Cần Giuộc, thành phố Hồ Chí Minh. Họ đi làm từ sáng sớm rồi chiều về, có xe đưa rước hàng ngày.

Việc người phụ nữ đi làm công nhân mang lại nhiều lợi ích như tăng thu nhập, góp phần cải thiện đời sống gia đình của họ trong bối cảnh công việc của nam giới gặp nhiều khó khăn. Tuy nhiên, bên cạnh những ưu điểm, thì nó cũng đã để lại nhiều hậu quả không nhỏ cho các gia đình như gây ra các xáo trộn về sinh hoạt trong gia đình, trong khi truyền thống của người Việt phụ nữ là người chăm sóc gia đình, con cái, còn đàn ông là trụ cột gia đình. Chính điều này cũng đưa lại nhiều hậu quả không mong muốn cho các gia đình có phụ nữ đi làm công nhân.

Ngoài ra, việc phụ nữ đi làm trong khi nam giới ở nhà phản ánh một thực tại tình hình việc làm ở địa phương đang gặp khó khăn, đặc biệt là những công việc vốn mang lại nguồn thu nhập cao cho nông dân như nuôi tôm, đi xà lan hiện nay ngày càng gặp khó khăn hơn. Nhu cầu lao động tại chỗ ngày càng tăng, trong khi chính quyền địa phương chưa có biện pháp hợp lý để giải quyết nhu cầu lao động tại chỗ đó, nên người dân ngoài công việc làm nông ra rất ít có công việc để làm thêm nhằm tạo thu nhập.

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ a ă â “Đồ án quy hoạch xây dựng nông thôn mới xã Tân Chánh, huyện Cần Đước, tỉnh Long An (Giai đoạn 2011-2015 và định hướng đến năm 2020) (PDF). Uỷ ban nhân dân huyện Cần Đước. Truy cập ngày 2 tháng 8 năm 2016. 
  2. ^ “Mã số đơn vị hành chính Việt Nam”. Bộ Thông tin & Truyền thông. Truy cập ngày 10 tháng 4 năm 2012. 
  3. ^ “Bộ máy hành chính xã, phường, thị trấn”. Uỷ ban nhân dân huyện Cần Đước. Truy cập ngày 2 tháng 8 năm 2016. 
  4. ^ “Sinh kế của cư dân xã Tân Chánh, huyện Cần Đước, tỉnh Long An dưới tác động của chính sách phát triển” (PDF). Tạp chí Dân tộc và Thời đại. Truy cập ngày 2 tháng 8 năm 2016. 

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]