Tachikaze (tàu khu trục Nhật)

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
IJN Tachikaze on trials Taisho 10.jpg
Tàu khu trục Nhật Tachikaze chạy thử máy tại Maizuru, năm 1921
Phục vụ (Nhật Bản) Naval Ensign of Japan.svg
Đặt hàng: 1918
Hãng đóng tàu: Xưởng hải quân Maizuru
Đặt lườn: 18 tháng 8 năm 1920
Hạ thủy: 31 tháng 3 năm 1921
Hoạt động: 5 tháng 12 năm 1921
Xóa đăng bạ: 31 tháng 3 năm 1944
Số phận: Bị đánh chìm tại Truk, ngày 18 tháng 2 năm 1944
Đặc điểm khái quát
Lớp và kiểu: Lớp tàu khu trục Minekaze
Trọng tải choán nước: 1.345 tấn (tiêu chuẩn);
1.650 tấn (đầy tải)
Độ dài: 97,5 m (319 ft 11 in) mực nước
102,6 m (336 ft 7 in) chung
Sườn ngang: 9 m (29 ft 6 in)
Mớn nước: 2,9 m (9 ft 6 in)
Động cơ đẩy: Turbine hơi nước Mitsubishi-Parsons
4 × nồi hơi đốt dầu
2 × trục
công suất 38.500 mã lực (28,7 MW)
Tốc độ: 72 km/h (39 knot)
Tầm xa: 6.700 km ở tốc độ 26 km/h
(3.600 hải lý ở tốc độ 14 knot)
Thủy thủ đoàn: 148
Vũ trang: 4 × hải pháo 120 mm (4,7 inch)/45 caliber Kiểu 3
6 × ống phóng ngư lôi 533 mm (21 inch)
2 × súng máy 7,7 mm
20 × mìn sâu

Tachikaze (tiếng Nhật: 太刀風) là một tàu khu trục thuộc lớp Minekaze được chế tạo cho Hải quân Đế quốc Nhật Bản ngay sau khi kết thúc Chiến tranh Thế giới thứ nhất. Chúng là những tàu khu trục hàng đầu của Hải quân Nhật trong những năm 1930, nhưng đã bị xem là lạc hậu vào lúc nổ ra Chiến tranh Thái Bình Dương, Tachikaze chỉ đảm trách vai trò tuần tra và hộ tống cho đến khi bị đánh chìm tại Truk, ngày 18 tháng 2 năm 1944.

Thiết kế và chế tạo[sửa | sửa mã nguồn]

Việc chế tạo lớp tàu khu trục kích thước lớn Minekaze được chấp thuận như một phần trong Chương trình Hạm đội 8-4 của Hải quân Đế quốc Nhật Bản trong giai đoạn năm tài chính 1917-1920, kèm theo lớp Momi cỡ trung vốn chia sẻ nhiều đặc tính thiết kế chung.[1] Được trang bị động cơ mạnh mẽ, những con tàu này có tốc độ cao và được dự định hoạt động như những tàu hộ tống cho những chiếc tàu chiến-tuần dương thuộc lớp Amagi mà cuối cùng đã không được chế tạo.[2]

Tachikaze, chiếc thứ mười một của lớp tàu này, được chế tạo tại Xưởng hải quân Maizuru. Nó được đặt lườn vào ngày 18 tháng 8 năm 1920; được hạ thủy vào ngày 31 tháng 3 năm 1921; và được đưa ra hoạt động vào ngày 5 tháng 12 năm 1921.[3]

Lịch sử hoạt động[sửa | sửa mã nguồn]

Sau khi hoàn tất, Tachikaze được điều về Quân khu Hải quân Yokosuka thuộc Hạm đội 2 Hải quân Đế quốc Nhật Bản.[3] Tại đây, nó cùng với các tàu khu trục chị em Hakaze, AkikazeHokaze được tập trung để hình thành nên Đội Khu Trục 4 thuộc Hải đội Ngư lôi 1 (第1水雷戦隊). Trong những năm 1938-1939, hải đội này được phân công tuần tra tại khu vực bờ biển miền Trung của Trung Quốc nhằm hỗ trợ cho những nỗ lực của quân Nhật trong cuộc Chiến tranh Trung-Nhật. Tachikaze còn hoạt động như đơn vị biệt phái hỗ trợ cho cuộc Chiếm đóng Đông Dương thuộc Pháp vào năm 1940.

Trong Chiến tranh Thế giới thứ hai, Tachikaze đảm trách vai trò tuần tra và hộ tống các đoàn tàu vận tải. Vào lúc xảy ra cuộc tấn công Trân Châu Cảng, Tachikaze đang được phân về Hải đội Khu Trục 34 trực thuộc Không Hạm đội 11 của Hải quân Đế quốc Nhật Bản, đặt căn cứ tại Takao, hỗ trợ việc tìm kiếm cứu hộ trên biển cho chiến dịch chiếm đóng Philippines, cũng như hộ tống các đoàn tàu vận tải đến DavaoBalikpapan tại Đông Ấn thuộc Hà Lan.

Từ ngày 27 tháng 2 đến cuối tháng 3 năm 1942, Tachikaze đặt căn cứ tại Staring-baai, hộ tống các tàu bè giữa SulawesiSingapore. Nó đã hỗ trợ cho cuộc chiếm đóng quần đảo Andaman trong tháng 4, rồi quay trở về xưởng hải quân Maizuru để sửa chữa vào cuối tháng. Từ tháng 6 cho đến cuối năm 1942, Tachikaze đặt căn cứ ngoài khơi đảo san hô Jaluit hoặc Rabaul, hộ tống các tàu vận tải trong khu vực quần đảo Marshallquần đảo Solomon. Nó bị hư hại nặng trong một cuộc không kích vào ngày 27 tháng 12 tại Rabaul, trong đó Thuyền trưởng của nó, Thiếu tá Hải quân Yasumi Hirasata thiệt mạng.[4]

Vào đầu năm 1943, sau khi được chiếc Yamabiko Maru sửa chữa khẩn cấp, Tachikaze quay trở về Maizuru, nơi công việc sửa chữa nó hoàn tất vào ngày 10 tháng 3. Tachikaze quay trở lại Rabaul tiếp nối nhiệm vụ tuần tra. Nó bị hư hại nhẹ trong một cuộc không kích lên Wewak vào ngày 15 tháng 4; nên bị buộc phải quay trở về Maizuru một lần nữa vào tháng 5 để sửa chữa, và ở lại đây cho đến tháng 9. Từ tháng 10 cho đến cuối năm, Tachikaze đặt căn cứ ngoài khơi Truk, thực hiện các chuyến tuần tra trải rộng từ Palau cho đến Rabaul.[4]

Vào ngày 4 tháng 2 năm 1944, Tachikaze bị mắc cạn tại đảo san hô Kuop trong vũng biển Truk trong khi quay trở về Rabaul, và bị mắc lại tại đây bất chất những nỗ lực nhằm giải cứu nó. Trong chiến dịch Hailstone mà Đồng Minh thực hiện trong các ngày năm 1718 tháng 2, Tachikaze phải chịu đựng những đợt bắn phá nặng nề trước khi một quả ngư lôi đánh trúng phòng động cơ, khiến con tàu bị chìm với đuôi chìm trước ở tọa độ 07°03′B 151°56′Đ / 7,05°B 151,933°Đ / 7.050; 151.933Tọa độ: 07°03′B 151°56′Đ / 7,05°B 151,933°Đ / 7.050; 151.933.[5]

Tachikaze được rút khỏi danh sách Đăng bạ Hải quân vào ngày 31 tháng 3 năm 1944.[3]

Danh sách thuyền trưởng[sửa | sửa mã nguồn]

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Howarth, The Fighting Ships of the Rising Sun
  2. ^ Globalsecurity.org, IJN Minekaze class destroyers
  3. ^ a ă â Nishidah, Hiroshi (2002). “Minekaze class 1st class destroyers”. Materials of the Imperial Japanese Navy. 
  4. ^ a ă Nevitt, Allyn D. (1997). “IJN Tachikaze: Tabular Record of Movement”. Long Lancers. Combinedfleet.com. 
  5. ^ Brown, Warship Losses of World War Two.

Thư mục[sửa | sửa mã nguồn]

  • Brown, David (1990). Warship Losses of World War Two. Naval Institute Press. ISBN 1-55750-914-X. 
  • Howarth, Stephen (1983). The Fighting Ships of the Rising Sun: The Drama of the Imperial Japanese Navy, 1895-1945. Atheneum. ISBN 0689114028. 
  • Jentsura, Hansgeorg (1976). Warships of the Imperial Japanese Navy, 1869-1945. US Naval Institute Press. ISBN 087021893X. 
  • Lindemann, Klaus (2005). Hailstorm Over Truk Lagoon: Operations Against Truk by Carrier Task Force 58, 17 and ngày 18 tháng 2 năm 1944, and the Shipwrecks of World War II. Oregon, USA: Resource Publications. ISBN 1-59752-347-X. 
  • Stewart, William Herman (1986). Ghost Fleet of the Truk Lagoon: An Account of "Operation Hailstone", February, 1944. Pictorial Histories. ISBN 0-933126-66-2. 
  • Watts, Anthony J (1967). Japanese Warships of World War II. Doubleday. ASIN B000KEV3J8. 
  • Whitley, M J (2000). Destroyers of World War Two: An International Encyclopedia. London: Arms and Armour Press. ISBN 1854095218. 

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]