Bước tới nội dung

Tarumanagara

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Vương quốc Tarumanagara
Tên bản ngữ
  • ᮒᮛᮥᮙᮔᮌᮛ
    Tarumanagara
khoảng 358–669
Lãnh thổ Tarumanagara
Lãnh thổ Tarumanagara
Thủ đôSundapura (giữa Bắc JakartaTp Bekasi)
Ngôn ngữ thông dụng
Tôn giáo
Chính trị
Chính phủQuân chủ
Lịch sử 
 Thành lập
khoảng 358
 Vương quốc Tarumanagara sụp đổ
669
Tiền thân
Kế tục
Văn hóa Buni
Vương quốc Sunda
Vương quốc Galuh
Hiện nay là một phần củaIndonesia
Bài viết này nằm trong chủ đề
Lịch sử Indonesia
Xem thêm:
Thời tiền sử
Những nhà nước đầu tiên
Tarumanagara (358–669)
Sunda (669–1579)
Sailendra (giữa thế kỷ 8 - giữa thế kỷ 9)
Srivijaya (cuối thế kỷ 7 - 13)
Medang (giữa thế kỷ 8 - thế kỷ 10)
Kediri (1049–1221)
Singhasari (1222–1292)
Majapahit (1293–1527)
Các nhà nước Hồi giáo
Sự phát triển của Hồi giáo (1200–1600)
Vương quốc Malacca (1400–1511)
Vương quốc Demak (1475–1518)
Hồi quốc Aceh (1496–1903)
Hồi quốc Banten (1526–1813)
Hồi quốc Mataram (thế kỷ 16 - 18)
Thời kỳ thuộc địa
Bồ Đào Nha (1512–1850)
Công ty Đông Ấn Hà Lan (1602–1800)
Đông Ấn Hà Lan (1800–1942)
Indonesia trỗi dậy
Đánh thức Quốc gia (1899–1942)
Thời kỳ Nhật Bản chiếm đóng (1942–1945)
Tuyên ngôn độc lập (1945)
Cách mạng Dân tộc (1945–1950)
Thời kỳ độc lập
Dân chủ tự do (1950–1957)
"Dân chủ kỷ luật" (1957–1965)
Quá độ tới "Trật tự Mới" (1965–1966)
"Trật tự Mới" (1966–1998)
Thời kỳ "Reformasi" (1998–nay)
sửa

Vương quốc Tarumanagara (còn gọi là Vương quốc Taruma hoặc Taruma) là một vương quốc cổ của người Sunda chịu ảnh hưởng của văn hóa Ấn Độ, nằm ở phía tây đảo Java. Vào thế kỷ thứ V, vua Purnawarman đã cho khắc những bài văn bia sớm nhất được tìm thấy tại Java, được ước tính có niên đại khởi đầu vào khoảng năm 358 SCN.[1]

Ít nhất bảy văn bia cổ liên quan đến vương triều này đã được phát hiện tại khu vực Tây Java, nằm gần BogorJakarta. Các di tích này bao gồm các bia đá Ciaruteun, Kebon Kopi, Jambu, Pasir Awi và Muara Cianten ở gần Bogor; văn khắc Tugu gần Cilincing ở Bắc Jakarta; và bia ký Cidanghiang tại làng Lebak, huyện Munjul, phía nam tỉnh Banten.[2]:36

Các bia ký của vương quốc Taruma là những ghi chép sớm nhất về Ấn Độ giáo ở phần phía tây của quần đảo Mã Lai.[3]:53 Vị trí địa lý của vùng duyên hải Tây Java, tương ứng với thủ đô Jakarta ngày nay, là một khu vực trọng yếu kiểm soát eo biển Sunda. Vị trí này có tầm chiến lược đối với đảo Sumatra, đồng thời là đầu mối kết nối hòn đảo này với lục địa châu Á, hướng đi Ấn ĐộTrung Quốc.

Vương quốc này nằm cách không xa thủ đô Jakarta ngày nay. Theo nội dung trên văn bia Tugu, nhà vua Purnawarman dường như đã cho đào một con kênh nhằm thay đổi dòng chảy của sông Cakung, giúp tiêu thoát nước cho một vùng duyên hải rộng lớn để phục vụ sản xuất nông nghiệp và mở rộng địa bàn định cư. Trong các văn bia do mình dựng lên, vua Purnawarman luôn tự đồng nhất bản thân với vị thần Vishnu, các giáo sĩ Bà-la-môn cũng tham gia vào công trình thủy lợi này bằng cách thực hiện các nghi lễ tâm linh nhằm cầu mong sự bền vững.[4] Vương quốc Tarumanagara được xác định tồn tại từ năm 358 đến năm 669 SCN tại vùng Tây Java — thuộc địa bàn các thành phố Bogor, Bekasi và thủ đô Jakarta ngày nay, tương ứng với khu vực đô thị Đại Jakarta hiện đại.

Những ghi chép bằng văn bản sớm nhất được biết đến về sự tồn tại của vương quốc cổ Tarumanagara được khắc trên các bia đá.[5] Trong ngôn ngữ bản địa, các bia đá này được gọi là prasasti. Cho đến nay, nhiều văn bia có niên đại từ thời kỳ Tarumanagara đã được phát hiện ở vùng Tây Java.

Sử học

[sửa | sửa mã nguồn]

Lịch sử vương quốc Tarumanagara chủ yếu được khảo cổ, phục dựng từ hai nguồn chính: văn bia cổ được tìm thấy gần vùng BogorJakarta ngày nay, và các thư tịch cổ Trung Quốc có niên đại từ thời nhà Tùynhà Đường.

Bia khắc Ciaruteun được phát hiện bên bờ sông Tjiaroeteun gần Buitenzorg, được chụp ảnh trước năm 1900.

Năm 1863, tại Đông Ấn Hà Lan, một khối đá lớn có khắc chữ đã được phát hiện gần vùng Ciampea, không xa thành phố Bogor ngày nay. Tấm bia đá này được tìm thấy ngay trên lòng con sông Ciaruteun, một nhánh của dòng sông Cisadane. Ngày nay, cổ vật này được gọi là bia đá Ciaruteun, có niên đại từ thế kỷ thứ 5. Văn bia được viết bằng chữ cổ Vengi (loại chữ được dùng phổ biến trong thời kỳ Pallava của Ấn Độ) và bằng tiếng Phạn. Đây là tài liệu bằng đá sớm nhất ghi lại một cách rõ ràng tên của vương quốc Tarumanagara,[6]:15 đồng thời vinh danh vị vua nổi tiếng nhất của vương triều này.

"Đức vua Purnawarman anh minh, lừng lẫy và quả cảm của vương quốc cổ Tarumanagara, người có dấu chân được tôn kính như dấu chân của đức thần Vishnu."

Chữ khắc Ciaruteun.[6]:15

Nằm gần đó là tấm bia đá Kebon Kopi I (còn gọi là bia đá Dấu Chân Voi), trên mặt bia khắc một dòng minh văn cùng hình hai dấu chân voi lớn. Nội dung dòng minh văn ghi rằng: "Những dấu chân voi này, tựa như dấu chân của thần tượng Airavata uy nghiêm (thần thú của Thiên đế Indra), chính là thuộc về vị quốc vương anh minh và quyền biến của vương quốc Tarumanagara."

Không chỉ những văn bia đá chứng minh sự tồn tại của Vua Purnawarman và vương quốc Tarumanagara của ông, mà các nguồn sử liệu cổ của Trung Quốc cũng thể hiện điều đó, bởi Tarumanagara vốn duy trì mối quan hệ thương mại và bang giao rộng khắp trên hải trình giữa Ấn ĐộTrung Quốc. Nhà sư Phật giáo Trung Hoa là Pháp Hiển đã ghi chép trong cuốn Phật Quốc Ký (414) rằng ông từng lưu trú trên đảo Da-bà-đề (cách viết của các bộ chính sử Trung Hoa để chỉ Javadvipa), nhiều khả năng chính là phần phía tây của đảo Java ngày nay, trong vòng sáu tháng từ tháng 12 năm 412 đến tháng 5 năm 413. Ông ghi nhận rằng thời bấy giờ Phật pháp chưa được biết đến rộng rãi, nhưng đạo Bà La Môn (Ấn Độ giáo) cùng các tín ngưỡng bản địa (thuyết vật linh) lại phát triển rất mạnh mẽ.

Trong khoảng thời gian từ năm 528 đến 669, vương quốc Tarumanagara đã cử các phái đoàn bang giao đến triều đình phương Bắc.[7]:105 Sách sử của nhà Tùy có ghi chép rằng, vua nước To-lo-mo (tức Taruma) đã sai sứ thần sang triều cống vào các năm 528535. Các tài liệu này cũng định vị vương quốc này nằm ở vùng biển phía nam xa xôi.[a]

Biên niên sử nhà Đường cũng ghi chép về việc các sứ giả của vương quốc cổ này đã băng qua vùng biển giao thương phía Nam để đến triều kiến hoàng đế nhà Đường vào các năm 666669.[3]:54[b]

Lịch sử của vương quốc Sunda cùng các tiền thân của nó là Tarumanagara và Salakanagara được ghi chép khá chi tiết trong cuốn Pustaka Rajyarajya i Bhumi Nusantara (thường được gọi tắt là Nusantara). Đây là một cuốn sách thuộc bộ sưu tập bản thảo Wangsakerta, được biên soạn vào cuối thế kỷ 17 tại Cirebon. Tuy nhiên, hiện nay giới sử học không còn công nhận tập bản thảo Wangsakerta này là nguồn sử liệu hợp pháp, bởi bộ tài liệu đầy tranh cãi này bị nghi ngờ là đồ giả tạo nhằm mục đích ngụy tạo lịch sử.[8][9]

Từ nguyên

[sửa | sửa mã nguồn]
Sông CitarumTây Java, về mặt từ nguyên có liên quan đến vương quốc Taruma.

Tên gọi Tarumanagara được tìm thấy trên một số bia ký ở vùng Tây Java có niên đại khoảng thế kỷ thứ 4. Các bộ chính sử Trung Hoa cổ đại cũng ghi nhận tên gọi này qua phiên âm Hán-Việt là "Đa La Ma" (chữ Hán: 多羅磨; bính âm: duó-luó-mó; âm tiếng Trung trung cổ: /talama/), phản ánh cách phát âm của từ "Taruma". Tarumanagara có nghĩa là vương quốc Taruma. Bản thân danh xưng "Taruma" có mối liên hệ mật thiết với dòng sông CitarumTây Java.[3]:54 Trong ngôn ngữ Sunda, ci có nghĩa là nước hoặc sông, còn tarum nghĩa là cây chàm (loại thực vật địa phương chuyên dùng để nhuộm màu chàm).[10]

Lịch sử

[sửa | sửa mã nguồn]
Tượng Kali từ Tanjung Priok, Bắc Jakarta

Khoảng từ năm 400 TCN đến năm 100 CN, một nền văn hóa gốm đất sét thời tiền sử đã phát triển rực rỡ tại vùng ven biển phía bắc Tây Java. Nền văn hóa gốm này được xác định là văn hóa Buni, đặt tên theo địa điểm khảo cổ đầu tiên được phát hiện là làng Buni ở Babelan, Bekasi, phía đông Jakarta. Các nhà khảo cổ học nhận định nền văn hóa này chính là tiền thân của vương quốc Tarumanagara (Taruma). Điều này cũng khẳng định mối liên hệ mật thiết của nó với di chỉ khảo cổ Batujaya.[11] Cộng đồng cư dân cổ đại hình thành nên nền văn hóa Buni sau đó đã trải qua quá trình "Ấn Độ hóa"; tiếp thu sâu sắc ảnh hưởng của Ấn Độ giáo và thiết lập nên chính thể sơ khai theo mô hình Ấn giáo đầu tiên tại đảo Java.

Theo tác phẩm Hướng dẫn Địa lý (Geographike Hyphegesis) được biên soạn vào thế kỷ II dưới thời Đế quốc La Mã, nhà địa lý người Hy Lạp Claudius Ptolemy đã đề cập đến những quốc gia nằm ở vùng viễn đông của thế giới thời bấy giờ. Trong số đó, ông có nhắc đến một đô thị mang tên Argyre nằm ở rìa phía tây của đảo Iabadiou. Tên gọi Iabadiou tương đương với từ Yawadwipa trong tiếng Phạn, tức là đảo Java ngày nay. Từ Argyre trong tiếng Hy Lạp cổ có nghĩa là "bạc", trùng hợp thay, trong tiếng Indonesiatiếng Sunda bản địa, "bạc" được gọi là perak một từ có âm đọc rất gần với thị trấn cảng Merak tọa lạc tại bờ tây của đảo Java.[12]:47

Thời đại Purnawarman

[sửa | sửa mã nguồn]
Bia khắc từ thời Purnawarman, không ghi ngày tháng, được xây dựng tại phường Tugu, Jakarta.

Lịch sử của Vương quốc Tarumanegara được ghi nhận qua một số bia ký có niên đại từ thế kỷ thứ 5 SCN. Các bia ký này được gọi tên theo địa điểm phát hiện, cụ thể là bia ký Ciaruteun, bia ký Pasir Koleangkak, bia ký Kebonkopi, bia ký Tugu, bia ký Pasir Awi, bia ký Muara Cianten và bia ký Cidanghiang. Bia ký Cidanghiang (vị trí xa hơn về phía tây, thuộc vùng Lebak, địa bàn Pandeglang) có ghi danh vị vua trị vì là Purnawarman, với hai dòng cổ tự ca ngợi Purnawarman là bậc quân vương mẫu mực của thiên hạ. Bia ký Jambu, khắc hai dòng chữ cổ bằng tiếng Pallava/Phạn, có in dấu chân lớn của nhà vua. Nội dung của bia ký này được hiểu là:

Danh tiếng của bậc minh quân tối thượng, người thủy chung với sứ mệnh và vô song thiên hạ chính là Sri Purnawarman, bệ hạ trị vì đất Taruma. Giáp trụ của vị vương giả này không mũi tên nào của quân thù có thể xuyên thủng. Dấu chân này thuộc về người luôn bách chiến bách thắng trong việc công phá thành trì của địch thủ, nhưng cũng luôn rộng lượng, trọng đãi những kẻ trung thành và kiên quyết đối đầu với thế lực thù địch.[13]

Các vị vua sau Purnawarman

[sửa | sửa mã nguồn]
Mảnh vỡ tượng thần Vishnu của đạo Hindu được phát hiện tại địa điểm khảo cổ Batujaya, Tây Java.

Vua Purnawarman có lẽ là vị quân chủ nổi tiếng nhất của vương quốc Tarumanagara nhờ để lại khá nhiều văn bia được ghi chép rõ ràng. Ngược lại, sử liệu về các vị vua kế nhiệm của triều đại này rất khan hiếm và mơ hồ, hầu hết chỉ được hậu thế biết đến qua các bản thảo phục dựng sau này và truyền thuyết dân gian tại địa phương.

Các đời quân chủ hậu duệ của vương triều Tarumanagara sau này chỉ được lưu danh qua thụy hiệu, thảy đều mang vương tước "warman" (tiếng Phạnvarman, nghĩa là "bảo kiếm" hoặc "hộ vệ"), điều này minh chứng họ đều là bậc chính thống thuộc cùng một dòng dõi trị vì.

Vương triều ghi nhận khá rõ về vị minh quân trị vì từ năm 535 đến năm 561. Ngài đã cho xây dựng một kinh đô mới ở phía đông, đồng thời để vùng đất cũ cùng các dinh thự, làng bản ở đó tự quản trị trật tự. Về sau, vùng đất cũ này trở thành một tiểu quốc, thần phục dưới quyền kiểm soát của triều đình trung ương. Trước khi vị minh quân này đăng cơ, vào năm 526, người con rể của ngài đã rời vùng đất cũ, dẫn quân binh và dân chúng xuôi về phía đông nam để khai hoang, lập nên một thái ấp phong địa mới (nay thuộc khu vực phụ cận của một thành phố hiện đại).

Kertawarman trị vì từ khoảng năm 561 đến năm 628. Trong thời kỳ này, vào năm 612, cháu nội của ManikmayaWretikandayun đã lập ra vương quốc Galuh ở phía đông nam Garut ngày nay, đóng đô tại Banjar Pataruman. Sau khi Kertawarman băng hà, vua Linggawarman kế vị, trị vì từ năm 628 đến năm 650. Tuy nhiên, nhà vua không có con trai nối ngôi. Trưởng công chúa của LinggawarmanManasih được gả cho Tarusbawa, người đứng đầu tiểu quốc Sunda Sembawa. Trong khi đó, thứ công chúa là Sobakancana kết hôn với Dapunta Hyang Sri Jayanasa người về sau đã sáng lập nên vương triều Srivijaya.

Sụp đổ

[sửa | sửa mã nguồn]
Phần móng bằng gạch tinh xảo của bảo tháp Phật giáo Batujaya ở Karawang có niên đại từ cuối thời kỳ Tarumanagara (thế kỷ 5-7) đến đầu thời kỳ ảnh hưởng của Srivijaya (thế kỷ 7-10).

Theo bia ký Kota Kapur thế kỷ thứ 7, quốc gia cổ Srivijaya bấy giờ có trung tâm nằm tại khu vực Palembang thuộc Nam Sumatra ngày nay đã phát động một cuộc viễn chinh quân sự nhằm thôn tính vùng đất Java. Thời kỳ này trùng hợp với giai đoạn suy thoái của vương quốc Tarumanagara. Nhiều khả năng Tarumanagara đã bị quân Srivijaya tấn công và đánh bại vào khoảng năm 686.[3]:83 Nguyên nhân dẫn đến chiến dịch quân sự này của Srivijaya hiện chưa rõ ràng. Tuy nhiên, lý do có thể xuất phát từ việc vua Jayanasa tự tuyên bố quyền thừa kế ngai vàng của Tarumanagara, do vợ ông bà Sobakancana chính là con gái của Linggawarman, vị tiên vương vừa băng hà của quốc gia này. Sau cuộc viễn chinh bằng đường thủy nói trên, tầm ảnh hưởng của Tarumanagara bắt đầu suy giảm rõ rệt.

Sau khi kinh đô bị quân xâm lược Srivijaya tàn phá, vua Tarusbawa đã rút lui sâu vào vùng nội địa phía nam để lánh nạn. Tại đây, ông lập kinh đô mới gần thượng nguồn sông Cipakancilan (thuộc khu vực Bogor ngày nay). Trong khi đó, các vùng ven biển quanh cảng Sundacảng Kalapa (chính là khu vực BantenJakarta ngày nay) được nhượng lại, chịu sự quản lý dưới hình thức tiểu quốc thần phục của đế quốc Srivijaya. Nhiều thế kỷ sau, kinh đô lánh nạn này đã phát triển rực rỡ và trở thành thành phố cổ Pakuan Pajajaran (thường gọi tắt là Pakuan hoặc Pajajaran). Vua Tarusbawa cũng chính là vị vua mở cõi, trở thành thủy tổ của các triều đại vua Sunda sau này.

Các nguồn sử liệu cổ đề cập đến các sản phẩm được giao thương ở vùng đất này, cho thấy cư dân bấy giờ sinh sống bằng nghề săn bắn, khai thác khoáng sản, đánh bắt thủy sản, buôn bánvận tải; bên cạnh nghề trồng trọtchăn nuôi. Các mặt hàng được mua bán tại đây là những sản vật tự nhiên đặc trưng như sừng tê giác, ngà voiđồi mồi. Vàngbạc cũng được trao đổi, chứng tỏ ngành khai khoáng thời kỳ này khá phát triển. Bia ký cổ cũng ghi nhận việc xây dựng các công trình thủy lợi thông qua hệ thống đào kênh rạch. Dự án thủy lợi này cho thấy vùng đất phía Bắc dải đồng bằng ven biển và khu vực kinh đô đã được chuyển đổi thành những ruộng lúa nước được tưới tiêu chủ động. Hệ thống kênh đào này đồng thời có vai trò điều tiết, quản lý nguồn nước nhằm ngăn chặn tình trạng lũ lụt thường xuyên xảy ra tại khu vực trung tâm kinh thành.[12]:60

Tôn giáo

[sửa | sửa mã nguồn]
Hai bức tượng thần Vishnu từ Cibuaya, Karawang, Tây Java. Thời kỳ Tarumanagara, khoảng TK 7-8. Chiếc vương miện hình ống có nhiều điểm tương đồng với nghệ thuật Khmer của Campuchia.

Theo ghi chép của Pháp Hiển, một cao tăng hành hương Phật giáo thời Đông Tấn (Trung Quốc), người đã ghé qua Tarumanagara trong chuyến hải trình trở về từ Ấn Độ vào đầu TK 5, cư dân của vương quốc Taruma lúc bấy giờ theo ba hệ tôn giáo chính. Đó là Phật giáo (hệ tư tưởng mà chính Pháp Hiển theo đuổi), Ấn Độ giáo (Phái Bà-la-môn) và một tín ngưỡng được ông mô tả là "ngoại đạo".[12]:62 Hệ thống "tạp giáo" này nhiều khả năng chính là tín ngưỡng bản địa, thờ cúng các linh hồn và vạn vật hữu linh, vốn được người dân địa phương thực hành từ trước khi chịu ảnh hưởng của các tôn giáo đến từ Ấn Độ.[12]:64

Ấn Độ giáo là tôn giáo chính tại vương quốc Tarumanagara, ít nhất là trong tầng lớp quý tộc lãnh đạo. Điều này được chứng minh qua hệ thống văn bia có niên đại từ thời kỳ này. Ví dụ, văn bia Tugu ghi nhận cha của vua Purnavarman (mang tước hiệu Rajadhiraja Guru) đã cho đào kênh Chandrabhaga. Bản thân vua Purnavarman cũng là người chủ trì xây dựng kênh Gomati. Văn bia này còn cho biết nhà vua đã hiến tế 1.000 con bò để làm quà tặng cho các Bà-la-môn, một nghi lễ minh chứng cho việc thực hành Ấn Độ giáo Vệ-đà.[12]:62 Văn bia Ciaruteun thể hiện rõ truyền thống Vệ-đà qua việc ví dấu chân của vua Purnavarman với bàn chân của thần Vishnu. Văn bia Ciaruteun và Cidanghiang đều đề cập đến khái niệm vikranta, thể hiện lòng tôn kính đối với Trivikrama, ba bước chân thần thánh của Vamana (hóa thân thứ năm của thần Vishnu). Văn bia Jambu tôn vinh vua Purnavarman bằng cách so sánh ông với thần sấm sét Indra và thần mặt trời Surya.[12]:63 Bên cạnh đó, các pho tượng thần Vishnu được tìm thấy tại Cibuaya có niên đại từ TK 7, cùng bức tượng đạo sĩ Rajarsi phát hiện tại Jakarta, là những minh chứng khảo cổ vững chắc cho sự hưng thịnh của Ấn Độ giáo tại vương quốc Tarumanagara.

Đã phát hiện các phiến đất sét cúng dường Phật giáo tại bảo tháp Batujaya.

Theo ghi chép của Pháp Hiển vào đầu TK 5, Phật giáo đã được truyền bá và thực hành tại vương quốc cổ. Tuy nhiên, ông cũng lưu ý rằng số lượng tín đồ Phật giáo tại vương quốc này thời bấy giờ còn rất ít. Vào những năm 1960, các nhà khảo cổ đã phát hiện nhiều gò đất mà người dân địa phương gọi là unur hoặc hunur ở khu vực bờ biển phía bắc Tây Java. Kết quả khai quật tại di chỉ khảo cổ Batujaya thuộc vùng Karawang (vốn nằm trong lãnh thổ của Tarumanagara xưa) cho thấy, các gò đất này thực chất là tàn tích của những công trình kiến trúc bằng gạch đỏ, bao gồm các Candi (đền thờ cổ) và stupa.[12]:58

Tính đến nay, các cuộc khai quật khảo cổ tại quần thể di tích Batujaya đã phát hiện tổng cộng khoảng 30 địa điểm, trong đó có 13 ngôi đền xây bằng gạch. Những di tíchdi vật có niên đại từ TK 5 này bao gồm các ngôi đền, tháp, bia ký và tấm phù điêu bằng đất nung lần lượt được phát hiện vào các năm 1995, 19972001. Trong số các tấm phù điêu này, nổi bật có hình ảnh Đức Phật tọa thiền trên tòa sen, hai bên là các vị Bồ Tát, xung quanh có các bảo tháp cao và lọng che phía trên.[14] Bên cạnh đó, một số tấm đất nung cúng dường của Phật giáo cũng được tìm thấy gần đền Blandongan thuộc khu di tích này. Những phát hiện trên đã minh chứng rõ nét cho yếu tố Phật giáo tại quần thể Batujaya, đồng thời xác thực rằng đạo Phật đã từng được thực hành và phát triển hưng thịnh dưới thời vương quốc Tarumanagara.[12]:58

Kết quả phân tích địa tầng tại đền Blandongan đã phát hiện nhiều lớp tầng văn hóa có niên đại kéo dài từ TK 2 đến TK 12. Di tích này cho thấy sau khi vương quốc Tarumanagara sụp đổ, khu di tích Phật giáo Batujaya vẫn tiếp tục hoạt động tích cực. Cụ thể, các ngôi đền thuộc quần thể Batujaya được sử dụng từ TK 4 đến TK 7 dưới thời Tarumanagara, và tiếp tục duy trì hoạt động từ sau TK 7 cho đến TK 10, nhiều khả năng là dưới vương triều cai trị Srivijaya.

Khác với vương quốc kế thừa là Sunda vẫn luôn sống mãi trong Pantun Sunda (truyền thống truyền khẩu của người Sunda địa phương), Tarumanagara đã hoàn toàn bị lãng quên trong ký ức của cư dân vùng Tây Java. Phải đến cuối TK 19, các nhà khảo cổ họcsử học mới bắt đầu giải mã được các văn bia đá được phát hiện gần Buitenzorg (nay là Bogor) và Batavia (nay là Jakarta). Việc phát hiện và nghiên cứu hệ thống bia ký Tarumanagara, đặc biệt là những sắc dụ do Vua Purnawarman ban hành, đã chứng minh rằng vương quốc này chính là nhà nước Hindu giáo sớm nhất tại miền Tây Indonesia. Cùng với Kutai và Kalingga, Tarumanagara được ghi nhận là một trong những quốc gia tiên phong mở ra thời kỳ lịch sử văn minh của Indonesia.[2]:36

Tarumanagara đóng vai trò đặc biệt quan trọng đối với bản sắc lịch sử của thành phố Bekasi và các khu vực lân cận, bởi các nhà sử học địa phương nhận định rằng kinh đô của vương quốc này từng tọa lạc tại thành phố Bekasi ngày nay hoặc vùng xung quanh đó. Tên gọi Chandrabhaga được ghi nhận trong bia ký Tarumanagara được cho là danh xưng cổ xưa của Bekasi. Từ Chandrabhaga (tiếng Phạn mang ý nghĩa là sông mặt trăng), sau đó được đổi thành Bhagasasi và cuối cùng biến âm thành tên gọi Bekasi như hiện tại.[15]

Tên gọi của vương quốc Tarumanagara đã được dùng để đặt cho Trường Đại học Tarumanagara, một cơ sở giáo dục đại học tư thục tọa lạc tại Jakarta của Indonesia, được thành lập vào năm 1959.[16]

Tham khảo

[sửa | sửa mã nguồn]
  1. Iguchi, Masatoshi (ngày 28 tháng 1 năm 2015). Java Essay: The History and Culture of a Southern Country (bằng tiếng Anh). Troubador Publishing Ltd. ISBN 978-1-78462-151-3.
  2. 1 2 R. Soekmono (1988) [1973]. Pengantar Sejarah Kebudayaan Indonesia 2, 2nd ed (bằng tiếng Indonesia) (ấn bản thứ 5). Yogyakarta: Penerbit Kanisius.
  3. 1 2 3 4 Coedès, George (1968). Walter F. Vella (biên tập). The Indianized States of Southeast Asia (PDF). trans.Susan Brown Cowing. University of Hawaii Press. ISBN 978-0-8248-0368-1.
  4. Mary Somers Heidhues (2000). Southeast Asia: A Concise History. London: Thames and Hudson. tr. 45 and 63..
  5. Bogor City: Bogor Inscription
  6. 1 2 Zahorka, Herwig (2007). The Sunda Kingdoms of West Java, From Tarumanagara to Pakuan Pajajaran with the Royal Center of Bogor. Jakarta: Yayasan Cipta Loka Caraka.
  7. Munoz, Paul Michel (2006). Early Kingdoms of the Indonesian Archipelago and the Malay Peninsula. National Book Network. ISBN 9789814155670.
  8. Lubis, Nina H. (ngày 3 tháng 8 năm 2012). "Kontroversi Tentang Naskah Wangsakerta". Humaniora (bằng tiếng Indonesia). 14 (1): 20–26. doi:10.22146/jh.v14i1.741 (không hoạt động 1 July 2025). ISSN 2302-9269.{{Chú thích tập san học thuật}}: Quản lý CS1: DOI không hoạt động tính đến tháng 7 2025 (liên kết)
  9. "Mengungkap Kontroversi Naskah Wangsakerta - Radar Cirebon". Radar Cirebon (bằng tiếng Indonesia). ngày 14 tháng 12 năm 2013. Bản gốc lưu trữ ngày 7 tháng 9 năm 2018. Truy cập ngày 3 tháng 6 năm 2018.
  10. "Citarum dalam Perspektif Sejarah". National Geographic Indonesia (bằng tiếng Indonesia). ngày 24 tháng 3 năm 2014. Bản gốc lưu trữ ngày 29 tháng 4 năm 2018. Truy cập ngày 3 tháng 1 năm 2016.
  11. "Batujaya Temple complex listed as national cultural heritage". The Jakarta Post (bằng tiếng Anh). ngày 8 tháng 4 năm 2019. Truy cập ngày 26 tháng 10 năm 2020.
  12. 1 2 3 4 5 6 7 8 Marwati Djoened Poesponegoro; Nugroho Notosusanto (2008). Sejarah Nasional Indonesia: Zaman Kuno (bằng tiếng Indonesia). Balai Pustaka. ISBN 978-9794074084. OCLC 318053182.
  13. "Sistem Registrasi Nasional Cagar Budaya". cagarbudaya.kemdikbud.go.id. Truy cập ngày 2 tháng 8 năm 2020.
  14. Lammerts, D. Christian (ngày 13 tháng 7 năm 2015). Buddhist Dynamics in Premodern and Early Modern Southeast Asia (bằng tiếng Anh). Institute of Southeast Asian Studies. tr. 27. ISBN 978-981-4519-06-9.
  15. Bekasi, Pikiran Rakyat (ngày 29 tháng 1 năm 2020). "Jadi Ibu Kota Kerajaan Tarumanegara, Simak Sejarah Bekasi dari Zaman Kerajaan hingga Penjajahan - Pikiran Rakyat Bekasi". Pikiran Rakyat (bằng tiếng Indonesia). Truy cập ngày 26 tháng 10 năm 2020.
  16. "History of Universitas Tarumanagara". untar.ac.id. Truy cập ngày 26 tháng 10 năm 2020.

Các vị vua Tarumanagara (358_669):

  • Maharshi Rajadirajaguru Jayasingawarman (358_382)
  • Dharmayawarman (382_395), con trai của Jayasingawarman.
  • Purnawarman (395_413), cháu trai của Dharmayawarman.
  • Wisnuwarman (434_455)
  • Indrawarman (455_515)
  • Candrawarman (515_535)
  • Suryawarman (535_561)
  • Kertawarman (561_628). Trong giai đoạn này, cháu trai của Manikmaya, Wretikandayun, 612, thành lập vương quốc Galuh Anh ở phía đông nam của Garut hiện tại với thành phố vốn nằm trong Banjar Pataruman.
  • Linggawarman (628_669). Dưới thời ông, ông đã gả công chúa (con gái duy nhất của ông)là Sobakancana cho Daputahyang Srijayanasa, người sau này thành lập vương quốc Sriwijaya. Con gái của họ, Manasih, kết hôn Tarusbawa.
  • Tarusbawa (669).
  1. Cannot find any direct reference to the name "Tarumanagara" in primary sources before Tang dynasty. It is only referenced in records of Tang dynasty, as "多羅磨" (duó-luó-mó, Middle Chinese: /talama/). [i]
    Sui dynasty lasts from 581 to 619, so the reference to Sui is improper. Actually the mentioned diplomatic missions are recorded in annals of Liang dynasty. The first one[ii], happened in 528 (大通二年), is a misreading. It refers to 芮芮國 (Kingdom of ruìruì) which is Rouran. The second one[iii], happened in 535 (大同元年), is quite close. It refers to 丹丹國 (Kingdom of dān-dān) which is probably transliteration of Tendong, and is considered to be a kingdom in malay peninsula by scholars. This kingdom has another mission arrived in 531[iv], but is neglected here.
    Further, the name "塔魯納" is not seen in any chinese source, except for the wikipedia article 信訶沙里, which doesn't give any sources.
  2. This is also not true, because there's no direct mention of "Tarumanagara". The name "多羅磨" (duó-luó-mó, Middle Chinese: /talama/) is not listed as an independent entry, but only mentioned in the description of 單單國[i] (Kingdom of dān-dān, i.e. 丹丹國). It reads as "Kingdom of Dandan (Tendong), situated southeast of Zhenzhou (present-day sanya), and west of Duoluomo (Taruma), also possessed established prefectures and counties (which implies they are not barbarian)". Apparently, the so called envoys are still from Dandan[v], as in previous paragraph, not Taruma.
Lỗi chú thích: Tồn tại thẻ <ref> cho nhóm chú thích với tên "lower-alpha", nhưng không tìm thấy thẻ <references group="lower-alpha"/> tương ứng
  1. 1 2 新唐書·卷二二二下》:單單,在振州東南,多羅磨之西,亦有州縣。
  2. 梁書·卷三》:乙酉,芮芮國遣使獻方物。
  3. 梁書·卷三》:二月……辛丑,高麗國、丹丹國各遣使獻方物。
  4. 梁書·卷三》:六月丁未……丹丹國遣使獻方物。
  5. 新唐書·卷二二二下》:乾封、總章時,獻方物。
Lỗi chú thích: Tồn tại thẻ <ref> cho nhóm chú thích với tên "lower-roman", nhưng không tìm thấy thẻ <references group="lower-roman"/> tương ứng