Hồi quốc Aceh

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Buớc tưới chuyển hướng Bước tới tìm kiếm
Hồi quốc Aceh
Keurajeuën Acèh Darussalam
كاورجاون اچيه دارالسلام

1496–1903
Alam Peudeung Mirah Quốc huy
Hồi quốc Aceh trong thời kỳ trị vì của sultan Iskandar Muda, 1608–1637.
Thủ đô Kutaraja, Bandar Aceh Darussalam (Banda Aceh ngày nay)
Ngôn ngữ Tiếng Aceh, tiếng Mã Lai, tiếng Ả Rập
Tôn giáo Hồi giáo Sunni
Chính phủ Không có danh nghĩa
Sultan
 •  1496–1528 Ali Mughayat Syah
 •  1875–1903 Muhammad Daud Syah
Lịch sử
 •  Vị Sultan đầu tiên lên ngôi 1496
 •  Chiến tranh Aceh 1903
Tiền tệ Tiền xu vàng và bạc
Hiện nay là một phần của  Indonesia
 Malaysia
Bài viết này nằm trong chủ đề
Lịch sử Indonesia
History of Indonesia Vi.png
Xem thêm:
Niên biểu lịch sử Indonesia
Thời tiền sử
Những nhà nước đầu tiên
Tarumanagara (358–669)
Sunda (669–1579)
Sailendra (giữa thế kỷ 8 - giữa thế kỷ 9)
Srivijaya (cuối thế kỷ 7 - 13)
Medang (giữa thế kỷ 8 - thế kỷ 10)
Kediri (1049–1221)
Singhasari (1222–1292)
Majapahit (1293–1500)
Các nhà nước Hồi giáo
Sự phát triển của Hồi giáo (1200–1600)
Hồi quốc Malacca (1400–1511)
Hồi quốc Demak (1475–1518)
Hồi quốc Aceh (1496–1903)
Hồi quốc Banten (1526–1813)
Hồi quốc Mataram (thế kỷ 16 - 18)
Thời kỳ thuộc địa
Bồ Đào Nha (1512–1850)
Công ty Đông Ấn Hà Lan (1602–1800)
Đông Ấn Hà Lan (1800–1942)
Indonesia trỗi dậy
National awakening (1899–1942)
Thời kỳ Nhật Bản chiếm đóng (1942–1945)
Tuyên ngôn Độc lập (1945)
Cách mạng Dân tộc (1945–1950)
Thời kỳ độc lập
Dân chủ tự do (1950–1957)
"Dân chủ kỷ luật" (1957–1965)
Quá độ tới "Trật tự Mới" (1965–1966)
"Trật tự Mới" (1966–1998)
Thời kỳ "Reformasi" (1998–nay)
sửa

Hồi quốc Aceh hay Sultan quốc Aceh, tên chính thức Vương quốc Aceh Darussalam (tiếng Aceh: Keurajeuën Acèh Darussalam; Jawoë: كاورجاون اچيه دارالسلام), là một cựu quốc gia nằm chủ yếu trên địa phân tỉnh Aceh thuộc Indonesia ngày nay. Đây từng một cường quốc trong khu vực vào khoảng thế kỷ 16-17, trước khi bước vào một thời kỳ suy thoái dài. Thủ đô đặt tại Kutaraja, tức Banda Aceh ngày nay.

Khi đặt đỉnh cao, Hồi quốc Aceh là một trong những kẻ thù chính của Hồi quốc JohorMalacca thuộc Bồ Đào Nha, cả hai đều nằm trên bán đảo Mã Lai. Cả ba thế lực đều tìm cách thâu tóm việc thương mại trên eo biển Malacca, đặc biệt là trong buôn bán hồ tiêuthiếc.

Thành lập và phát triển[sửa | sửa mã nguồn]

Lịch sử Aceh thời cổ không rõ ràng. Tiếng Aceh là một trong mười ngôn ngữ thuộc nhóm ngôn ngữ Aceh-Chăm. Theo Sejarah Melayu, vua Chăm Pa Syah Pau Kubah có một con trai tên Syah Pau Ling, người đã chạy thoát khỏi thủ đô Vijaya khi nó bị quân đội nhà Lê của Đại Việt đánh chiếm năm 1471. Syah Pau Ling sau đó đã lập nên Aceh.

Hồi quốc này được thành lập bởi Ali Mughayat Syah, người đã mở rộng quyền lực ra khắp bắc Sumatra năm 1520.[1] Ông đánh chiếm Deli, Pedir, Pasai, và tấn công Aru. Con trai ông, Alauddin al-Kahar tuy mở rộng lãnh thổ ra xa hơn về phía nam của Sumatra, song lại ít thành công hơn trong việc tìm chỗ đứng trong khu vực eo biển, mặc dù đã nhiều lần tấn công cả Johor và Malacca[2] với sự hỗ trợ về người và hỏa lực từ sultan Suleiman I của đế quốc Ottoman.[3]

Ngày 21 tháng 6, 1599, thuyền trưởng người Hà Lan Cornelius Houtman cập bến "Acheen", đây là một trong ba chuyến viễn chinh đầu tiên tới Đông Ấn. Thủy thủ đoàn ở lại đây ba tháng để tìm lấy hồ tiêu và các gia vị khác. John Davis nói rằng sau đó nhóm của ông đã bị chủ đất địa phương tấn công, với tổng cộng 68 người chết và bị bắt. Sau khi đến, họ được sultan cho phép thu mua hồ tiêu. Cùng năm đó, đại diện của Công ty Đông Ấn Anh dưới sự chỉ huy của James Lancaster đến Aceh. Lancaster trở lại năm 1602, mang theo lá thư của nữ hoàng Elizabeth I.[4][5]

Sultan từ năm 1589 đến 1604 là Alauddin Riayat Shah ibn Firman Shah. Sau khi ông mất, mâu thuẫn nội bộ khiến đất nước không có một vị quân chủ nào đủ sức quản lý. Năm 1607, Iskandar Muda lên ngôi. Iskandar Muda mở rộng bờ cỏi ra phần lớn Sumatra. Ông cũng chinh phục Pahang, một vùng sản xuất thiếc trên bán đảo Mã Lai, và đã buộc sultan của Johor phải công nhận vị thế nước lớn của mình. Ông còn ban hành luật Adat Meukuta Alam (Adat có nghĩa là "phong tục"). Đội thủy quân của ông đã phải chịu kết cục thảm hại trong một chiến dịch tiến đánh Malacca năm 1629, khi thủy quân hợp lực giữa Johor và Bồ Đào Nha đã phá tan toàn bộ tàu thuyền và tiêu diệt 19.000 quân Aceh.[5][6][7] Tuy vậy, Aceh vẫn có thể chinh phục Kedah trong cùng năm đó và kết nạp thêm nhiều thần dân mới.[7] Con rể ông, Iskandar Thani, cựu hoàng tử Pahang, trở thành người nói ngôi. Trong thời kỳ này, Aceh chú trọng củng cố nội bộ và thống nhất về tôn giáo.

Sau Iskandar Thani, Aceh được cai trị bởi nhiều nữ sultan. Chính sách bắt con tin từ các vương quốc bị chinh phục của Aceh[7] khiến họ khao khát tìm sự độc lập, kết quả là quyền lực của Aceh bị suy yếu khi những thuộc vương mỗi lúc một có thêm quyền lực. Tước vị "Sultan" dần trở thành một danh hiệu chỉ còn tính biểu tượng.[8] Tới thập niên 1680, một người Ba Tư đã mô tả bắc Sumatra là nơi "mỗi góc lại có một vị vua hay một thống sứ hoặc nhà lãnh đạo tự quản lý một cách độc lập và không và không cống nạp bất cứ gì cho cấp cao hơn."[9]

Sultan[sửa | sửa mã nguồn]

Sultan của Aceh Thời gian trị vì
Ali Mughayat Syah khoảng 1514–1530
Salahuddin 1530–1537/39
Alauddin al-Kahar 1537/39–1571
Ali Ri'ayat Syah I 1571–1579
Sultan Muda 1579
Sri Alam 1579
Zainul Abidin 1579
Alauddin Mansur Syah 1579–1585/86
Ali Ri'ayat Syah II, Raja Buyung 1585/86–1589
Alauddin Ri'ayat Syah Sayyid al-Mukammal 1589–1604
Ali Ri'ayat Syah III 1604–1607
Iskandar Muda 1607–1636
Iskandar Thani 1636–1641
Ratu Safiatuddin Tajul Alam 1641–1675
Ratu Nurul Alam Naqiatuddin Syah 1675–1678
Ratu Inayat Zaqiatuddin Syah 1678–1688
Ratu Kamalat Syah 1688–1699
Badr ul-Alam Syarif Hasyim Jamaluddin 1699–1702
Perkasa Alam Syarif Lamtui Syah Johan Berdaulat 1702–1703
Jamal ul-Alam Badr ul-Munir 1703–1726
Jauhar ul-Alam 1726
Syamsul Alam 1726–1727
Alauddin Ahmad Syah 1727–1735
Alauddin Johan Syah 1735–1760
Alauddin Mahmud Syah I 1760–1781
Badr ul-Alam Syah 1764–1765
Sulaiman Syah 1773
Alauddin Muhammad Syah 1781–1795
Alauddin Jauhar ul-Alam Syah (lần một) 1795–1815
Syarif Saiful Alam Syah 1815–1819
Alauddin Jauhar ul-Alam Syah (lần hai) 1819–1823
Alauddin Muhammad Da'ud Syah I 1823–1838
Alauddin Sulaiman Ali Iskandar Syah 1838–1857
Alauddin Ibrahim Mansur Syah 1857–1870
Alauddin Mahmud Syah II 1870–1874
Alauddin Muhammad Da'ud Syah II Johan Berdaulat 1874–1903

Xem thêm[sửa | sửa mã nguồn]

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Ricklefs, 32
  2. ^ Ricklefs, 33
  3. ^ Barwise and White, 114
  4. ^ Michael Hicks, ‘Davis, John (c.1550–1605)’, Oxford Dictionary of National Biography, Oxford University Press, 2004; online edn, Jan 2008
  5. ^ a ă Ooi Keat Gin biên tập (2004). Southeast Asia. Santa Barbara, Calif. [u.a.]: ABC Clio. tr. 120. ISBN 1-57607-770-5. 
  6. ^ Ricklefs, 34
  7. ^ a ă â *D. G. E. Hall, A History of South-east Asia. London: Macmillan, 1955.
  8. ^ Ricklefs, 36
  9. ^ Barwise and White, 117
  • J.M. Barwise and N.J. White. A Traveller’s History of Southeast Asia. New York: Interlink Books, 2002.
  • M.C. Ricklefs. A History of Modern Indonesia Since c. 1300, 2nd ed. Stanford: Stanford University Press, 1994.

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]