Thuần Hưng

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Buớc tưới chuyển hướng Bước tới tìm kiếm

Thuần Hưng

Hành chính
TỉnhHưng Yên
HuyệnKhoái Châu
Địa lý
Tọa độ: 20°46′47″B 105°59′37″Đ / 20,77972°B 105,99361°Đ / 20.77972; 105.99361Tọa độ: 20°46′47″B 105°59′37″Đ / 20,77972°B 105,99361°Đ / 20.77972; 105.99361
Diện tích5 km²[1]
Dân số (1999)
Tổng cộng7.414 người[1]
Mật độ1.483 người/km²
Khác
Mã hành chính12271[1]

Thuần Hưng là một thuộc huyện Khoái Châu, tỉnh Hưng Yên, Việt Nam.

Dân số:

Xã có diện tích 5 km², dân số năm 1999 là 7.414 người,[1] mật độ dân số đạt 1.483 người/km².

Địa lý:

Phía Bắc giáp xã Đại Hưng

Phía Nam giáp xã Thành Công

Phía Đông giáp huyện Kim Động

Phía Tây giáp giáp xã Chí Tânsông Hồng

Thuần Hưng có con sông Giàn nối từ sông Hồng đến sông Cửu An, giữa sông Cửu An và sông Đào được ngăn cách bằng đập hình thành lên đường tỉnh lộ 205.

Hình ảnh sông Giàn và sông Cửu An là một trong những địa danh nổi tiếng được các Vua Nhà Nguyễn đúc trong Cửu đỉnh hiện được đặt trong Di tích Cố đô Huế.

Đây là tiềm năng to lớn về du lịch nếu như Sông Giàn được quy hoạch và xây dựng.

Lịch sử:

Dưới thời nhà Tần (từ 214-204) trước Công nguyên, Thuần Hưng, Khoái Châu thuộc Tượng quận.

Nhà Triệu (từ 207-111 trước Công nguyên) chia lãnh thổ Việt Nam khi đó làm hai quận, Thuần Hưng, Khoái Châu thuộc huyện Chu Diên, quận Giao Chỉ.

Thời Tây Hán và Đông Hán (từ 111 trước Công nguyên - 40 Công nguyên), nhà Hán chia lãnh thổ Việt Nam khi đó thành 9 quận, Thuần Hưng, Khoái Châu thuộc quận Giao Chỉ.

Thời kỳ phong kiến Việt Nam[sửa | sửa mã nguồn]

Thời nhà Ngô (939-968), Thuần Hưng được gọi là Đằng Châu.

Thời nhà Trần (1225 - 1400)

Năm 1229 nhà Trần đổi 24 lộ thời Lý thành 12 lộ, Thuần Hưng thuộc Khoái Lộ.

Thuần Hưng thuộc tổng Đại Quan theo tên cũ là địa danh Đại Mang Độ, Nơi đây là đại bản doanh của Hai Vua Trần (Thượng Hoàng Trần Thánh Tông và Vua Trần Nhân Tông). Đại Mang Độ (Thuần Hưng và Đại Hưng) là nơi các Quân đội Nhà Trần lập Đại bản doanh chuẩn bị cho Tổng tiến công đánh bại Quân Nguyên Mông tại trận đánh Chương Dương Độ, Hàm Tử Quan, Tây Kết... trong cuộc chiến chống quân Nguyên Mông lần thư 2 năm Ất Dậu 1285.

Theo Đại Việt Sử Ký toàn thư: "Ngày 20 (Tháng 5 năm 1285), hai vua tiến đóng ở Đại Mang Bộ. Tổng quản giặc Nguyên là Trương Hiển đầu hàng. Hôm đó, ta đánh bại giặc ở Tây Kết, giết và làm bị thương rất nhiều, chém đầu Nguyên Soái Toa Đô. Nửa đêm Ô Mã Nhi trốn qua cửa sông Thanh Hoá, hai vua đuổi theo nhưng không kịp bắt được hơn 5 vạn dư đảng giặc đem về, Ô Mã Nhi chỉ còn một chiếc thuyền vượt biển trốn thoát"

Tháng 4 năm 1297, nhà Trần lại tiếp tục đổi các lộ, phủ, thành, trấn; vùng đất Thuần Hưng thuộc Thiên Trường phủ lộ.

Tháng 3/1469 (tức năm Quang Thuận thứ 10), năm đầu tiên nhà nước định bản đồ, Thiên Trường lại đổi là Sơn Nam quản 11 phủ, 42 huyện, phủ Khoái Châu quản 5 huyện gồm Đông Yên, Tiên Lữ, Kim Động, Phù Dung, Thiên Thi; phủ Tiên Hưng quản 4 huyện gồm Ngự Thiên, Duyên Hà, Thần Khê, Thanh Lan. Tháng 4/1490 (năm Hồng Đức thứ 21), cả nước được chia làm 13 xứ, Thuần Hưng thuộc xứ Sơn Nam.

Năm Gia Long thứ nhất (1802) lấy 2 trấn thượng và hạ lệ thuộc vào Bắc thành (Sơn Nam Thượng, Sơn Nam Hạ, Kinh Bắc, Sơn Tây, Hải Dương là 5 nội trấn của Bắc thành).

Năm Minh Mạng thứ ba 1822, trấn Sơn Nam thượng đổi là trấn Sơn Nam, trấn Sơn Nam hạ đổi là trấn Nam Định.

Năm Minh Mạng thứ 12 (tháng 10/1831): Vua Minh Mạng tiến hành một cuộc cải cách hành chính địa phương, xóa bỏ các tổng trấn, đổi các dinh trấn thành tỉnh, chia cả nước thành 30 tỉnh, trong đó có tỉnh Hưng Yên. Các trấn phía Bắc được đổi thành 18 tỉnh, dưới tỉnh là phủ, huyện, châu và tổng, xã. Tỉnh Hưng Yên có phủ Khoái Châu và 5 huyện (Đông An, Kim Động, Thiên Thi, Phù Dung, Tiên Lữ). Cải tổ lại hệ thống các quan lại đứng đầu tỉnh, bỏ các chức cũ mà đặt mới như Tổng đốc, Tuần phủ, Bố chính, Án sát, Lãnh binh ở các tỉnh. Huyện Đông An gồm các tổng: Bái, Mễ, Đại Quan, Phú Khê, Bình Dân, Yên Lạc, Yên Lịch, Yên Vĩnh, Yên Cảnh, Ninh Tập, Yên Phú, Tử Dương.

Sau nhiều lần thay đổi, mỗi triều đại đều có cải cách, canh tân bộ máy hành chính từ Trung ương đến cơ sở cho phù hợp với hoàn cảnh lịch sử và thuận bề cho việc cai trị, điều hành.

Thời kì hiện đại[sửa | sửa mã nguồn]

Ngày 24/7/1999: Chính phủ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam ra Nghị định số 60- NĐ/CP về việc điều chỉnh địa giới hành chính và chia các huyện Mỹ VănChâu Giang thành 5 huyện, Yên Mỹ, Mỹ Hào, Văn Lâm, Văn Giang, Khoái Châu. Chia huyện Châu Giang thành 2 huyện Khoái Châu và Văn Giang: Huyện Khoái Châu có diện tích tự nhiên là 13.073,1 ha với 184.079 nhân khẩu gồm 25 xã: Đông Tảo, Dạ Trạch, Hàm Tử, Ông Đình, Bình Minh, An Vĩ, Đông Kết, Bình Kiều, Tân Dân, Tứ Dân, Tân Châu, Đông Ninh, Đại Tập, Liên Khê, Nhuế Dương, Chí Tân, Đại Hưng, Thuần Hưng, Thành Công, Phùng Hưng, Việt Hòa, Đồng Tiến, Hồng Tiến, Dân Tiến, và thị trấn Khoái Châu.

Di tích lịch sử:[sửa | sửa mã nguồn]

Thuần Hưng được xác định là địa danh Đại Mang Bộ là địa danh gần sông Hồng thuộc xã Thuần Hưng và các xã xung quanh thuộc tổng Đại Hưng theo tên cũ. Nơi đây là linh hồn của cuộc kháng chiến chống quân Nguyên Mông là Tổng hành dinh của Vua Trần Nhân Tông và Thượng Hoàng Trần Thái Tông, từ đây đưa ra những quyết sách quan trọng để Hưng Đạo Vương Trần Quốc Tuấn lãnh đạo quân và dân Đại Việt Tổng tấn công chiến thắng quân Nguyên Mông giữ yên và mở mang bờ cõi Việt Nam.

Cây đa Sài Thị thuộc thôn Sài Thị - xã Thuần Hưng là nơi thành lập chi bộ đảng Cộng sản Việt Nam đầu tiên của tỉnh Hưng Yên.

Sông Giàn - Thuần Hưng là Đầu nguồn của Sông Cửu An tiếp giáp với Sông Hồng là di tích lịch sử về tinh thần xây dựng và phát triển đất nước của người Việt. Hình ảnh sông Giàn được các vua Nhà Nguyễn khắc vào Cửu Đỉnh đặt tại Cố Đô Huế

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ a ă â b “Mã số đơn vị hành chính Việt Nam”. Bộ Thông tin & Truyền thông. Truy cập ngày 10 tháng 4 năm 2012. 

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]