Thuốc chống loạn nhịp tim

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Buớc tưới chuyển hướng Bước tới tìm kiếm
Plot of membrane potential versus time. The initial resting phase (region 4) is negative and constant flowed by sharp rise (0) to a peak (1). The plateau phase (2) is slightly below the peak. The plateau phase is followed by a fairly rapid return (3) back to the resting potential (4).
Các pha của một thế động tim. The sharp rise in voltage ("0") corresponds to the influx of sodium ions, whereas the two decays ("1" and "3", respectively) correspond to the sodium-channel inactivation and the repolarizing eflux of potassium ions. The characteristic plateau ("2") results from the opening of voltage-sensitive canxi channels.

Thuốc chống loạn nhịp tim là một nhóm các dược phẩm được sử dụng để áp chế các nhịp bất thường của tim (các rối loạn nhịp tim), như là rung tâm nhĩ, atrial flutter, nhịp tim nhanh tâm thất, và rung thất.

Đã có khá nhiều cố gắng trong việc phân loại các thuốc chống loạn nhịp tim, tuy nhiên, do các vấn đề bắt nguồn từ thực tế là nhiều chất chống loạn nhịp tim có nhiều chế độ hoạt động, làm cho bất kì phương pháp phân loại cũng thiếu chuẩn xác.

Phân loại Vaughan Williams[sửa | sửa mã nguồn]

Cách phân loại của Vaughan Williams được đưa ra vào năm 1970.[1]

Có năm nhóm chính trong cách phân loại Vaughan Williams về thuốc chống loạn nhịp tim:

  • Class I các chất can thiệp vào kênh natri (Na+).
  • Class II các chất là chất chống hệ thần kinh giao cảm. Đa số các chất trong nhóm này là các beta blocker.
  • Class III các chất ảnh hưởng lên dòng ra kali (K+).
  • Class IV các chất ảnh hưởng lên các kênh calcinút nhĩ thất.
  • Class V các chất hoạt động bằng cơ chế khác hoặc chưa rõ.

Xem thêm[sửa | sửa mã nguồn]

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Vaughan Williams EM. "Classification of anti-arrhythmic drugs." In: Symposium on Cardiac Arrhythmias, Sandfte E, Flensted-Jensen E, Olesen KH eds. Sweden, AB ASTRA, Södertälje, 1970;449-472.

Bản mẫu:Antiarrhythmic agents