Thuốc chống trầm cảm

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Fluoxetine (Prozac), an SSRI
The chemical structure of venlafaxine (Effexor), an SNRI

Thuốc chống trầm cảm (antidepressant) được khám phá trong thập niên 1950 và qua nhiều năm nghiên cứu và ứng dụng trong y học, trở thành một trong những loại thuốc thông dụng nhất hiện nay. Thuốc chống trầm cảm được sử dụng để điều trị rối loạn trầm cảm và một số bệnh khác như: dysthymia, anxiety disorders, obsessive compulsive disorder, Rối loạn ăn uống, chronic pain, neuropathic pain and, in some cases, dysmenorrhoea, snoring, migraines, Rối loạn tăng động giảm chú ý (ADHD), substance abusesleep disorders. Chúng có thể được sử dụng đơn liều hoặc kết hợp với các nhóm thuốc khác.

Các nhóm thuốc chống trầm cảm thường được sử dụng bao gồm: thuốc ức chế tái hấp thu chọn lọc serotonin (SSRIs), thuốc ức chế tái hấp thu serotonin–norepinephrine (SNRIs), thuốc chống trầm cảm ba vòng (TCAs) and thuốc ức chế enzyme monoamine oxidase (MAOIs). Ngoài ra còn một số thuốc có thể sử dụng như buprenorphine.[1] tryptophan,[2] low-dose antipsychotics,[3] St John's wort and benzodiazepines, which can improve the short-term response of antidepressants when used together but carry a risk of physical dependence with reduced effect over time as well as withdrawal symptoms.[4]

Một số liệu pháp điều trị không cần thuốc như:tâm lý trị liệu, sock điện, châm cứu, thể dục...[5]

Có khoảng 30 loại thuốc chống trầm cảm, phần lớn nằm vào một trong 4 loại sau:

  • Tricyclics (thuốc chống trầm cảm ba vòng)
  • MAOIs (thuốc ức chế enzyme Monoamine oxidase)
  • SSRIs (thuốc ức chế tái hấp thu chọn lọc trên Serotonin)
  • SNRIs (thuốc ức chế tái hấp thu trên Serotonin và Noradrenaline)

Lịch sử[sửa | sửa mã nguồn]

Trước thập niên 50, nhóm thuốc gây nghiện opioicamphetamines là những thuốc thông thường sử dụng điều trị bệnh trầm cảm. Sau khi các nhóm này bị quản lý chặt chẽ do nhiều tác dụng phụ và gây nghiện.[6] Cao chiết từ thực vật St John's wort cũng có thể sử dụng như "thuốc bổ thần kinh" để làm giảm nhẹ triệu chứng bệnh trầm cảm.[7]

Isoniazid, iproniazid, imipramine[sửa | sửa mã nguồn]

Năm 1951, Irving SelikoffEdward Robitzek, làm việc cho bệnh viện Sea View Hospital trên đảo Staten Island, đã bắt đầu thử nghiệm lâm sàng với thuốc kháng lao của hãng Hoffman-LaRocheisoniazidiproniazid trên những bệnh nhân có tiên lượng xấu. Kết quả là tinh thần bệnh nhân được cải thiện hơn và họ chấp hành kỉ luật hơn."[8] Triển vọng từ ca thử lâm sàng trên đã tạo ra dư luận sôi nổi.

Năm 1952, Khi nghiên cứu tác dụng phụ gây kích động của isoniazid, bác sĩ tâm thần Max Lurie thử nghiệm trên các bệnh nhân. Trong những năm sau đó, Max Lurie và Harry Salzer ghi nhận rằng isoniazid cải thiện được tình trạng trầm cảm ở 2 phần 3 bệnh nhân của họ và đặt ra khái niệm chống trầm cảm.[9] Một sự kiện tương tự cũng xảy ra ở Paris, Ở đây Jean Delay, trưởng khoa tâm thần tại bệnh viện Sainte-Anne Hospital tiếp nhận thông tin về tác dụng này từ các đồng nghiệp là bác sĩ phổi tại bệnh viện Cochin Hospital. Năm 1952, trước Lurie và Salzer, Delay đã ghi nhận ảnh hưởng có lợi của isoniazid trên bệnh nhân trầm cảm tại khu dân cư Jean-Francois Buisson.[10] Vì độc hại của iproniazid nên tác dụng chống trầm cảm của chúng ít được quan tam,[9] Mặc dù chúng vẫn còn được sử dụng điều trị bệnh lao]]. Cơ chế chống trầm cảm của isoniazid vẫn chưa rõ. Nhưng có thể suy đoán rằng là do ức chế diamine oxidase, kèm theo ức chế yếu monoamine oxidase A.[11]

Thế hệ thuốc chống trầm cảm thứ 2[sửa | sửa mã nguồn]

Thuốc chống trầm cảm trở thành thuốc kê đơn vào những năm 1950. Theo ước tính có hơn 50 đến 100 cá nhân trên một triệu sử dụng những thuốc mới điều trị trầm cảm. Các công ty dược phẩm không thấy triển vọng kinh doanh ở thị trường nhỏ vé này. Doanh số bán hàng của thuốc chống trầm cảm trong suốt những năm 1960 duy trì thấp so với doanh số của thuốc an thần khác.[12] chúng được tiếp thị sử dụng cho mục đích khác.[13] Imipramine vẫn được sử dụng phổ biến và nhiều thế hệ sau đã được giới thiệu. Việc sử dụng thuốc ức chế monoamine oxidase(MAOI) gia tăng sau khi dạng thuốc thuận nghịch được phát triển và giới thiệu, chúng chỉ tác dụng trên loại MAO-A, do dó thuốc trở nên an toàn hơn khi sử dụng.[13][14]

vào những năm 1960, Người ta nhận thấy cơ chế tác dụng của nhóm chống trầm cảm ba vòng là ức chế tái hấp thunorepinephrine. Tuy nhiên, tái hấp thu norepinephrine trở nên liên quan đến tác dụng kích thích. nhóm chống trầm cảm ba vòng thế hệ sau được cho là có ảnh lên serotonin được đưa ra vào năm 1969 bởi Carlsson và Lindqvist cũng như là Lapin và Oxenkrug.

Các nhà nghiên cứu đã bắt đầu quá trình thiết kế thuốc để cô lập các dẫn chất kháng histamine có hệ thống chọn lọc mục tiêu. Chất đầu tiên được cấp bản quyền là zimelidine vào năm 1971, Trong khi các thuốc được thử lâm sàng đầu tiên là indalpine. Fluoxetine được Cục quản lý Thực phẩm và Dược phẩm Hoa Kỳ (FDA) chấp nhận đưa thị trường Mỹ vào năm 1988, trở thành thuốc SSRI đầu tiên. Fluoxetin được phát triển tại tập đoàn dược phẩm Eli Lilly and Company vào đầu những năm 1970 bởi Bryan Molloy, Klaus Schmiegel, David Wong và các cộng sự.[15][16] SSRIs được biết đến như "thuốc chống trầm cảm thế hệ mới" cùng với các nhóm thuốc mới như SNRIs và NRIs có tác dụng chọn lọc và đa dạng.[17]

St John's wort bị loại ra ở hầu hết các quốc gia trong suốt thế kỉ 19 and 20, ngoại trừ Đức, nơi mà cao chiết của Hypericum cuối cùng cũng được cấp phép, đóng gói và kê đơn. Những thử nghiệm nhỏ được thực hiện trong những năm 1970 và 1980, và được chú ý hơn vào những năm 1990 nhờ một nghiên cứu meta-analysis.[18] Hiện nay, thuốc này vẫn được sử dụng như là một thuốc không kê đơn (OTC) tại nhiều quốc gia. Nghiên cứu vẫn được tiếp tục để tìm hiểu về thành phần hoạt tính hyperforin và làm sáng tỏ cơ chế hoạt động của chúng.[19][20]

Tác dụng[sửa | sửa mã nguồn]

Một số thuốc chống trầm cảm (SSRI và SNRI) làm tăng các chất kích thích hoạt động thần kinh trong não, trong khi một số khác (TCTC 3 vòng và MAOI) làm kéo dài hoạt động của những chất này. Thuốc chống trầm cảm được dùng ít nhất 10 ngày mới có hiệu quả và sau 8 tuần mới có tác dụng hoàn toàn.

Tác dụng phụ[sửa | sửa mã nguồn]

Phần lớn các thuốc chống trầm cảm gây khô miệng, rối loạn thị giác, chóng mặt, ngủ gà, táo bón, tiểu khó. Các triệu chứng này có thể gia tăng khi điều trị lâu dài. Dùng quá liều có thể gây rối loạn nhịp tim, co giật, hôn mê, có khi chết.

Các thuốc kê đơn thông dụng[sửa | sửa mã nguồn]

Structural formula of the SSRI escitalopram, in its free base form.

Hoa kỳ: Các thuốc chống trầm cảm được kê đơn phổ biến được đưa ra thị trường năm 2010[21] là:

Sertraline Zoloft SSRI 33,409,838
Citalopram Celexa SSRI 27,993,635
Fluoxetine Prozac SSRI 24,473,994
Escitalopram Lexapro SSRI 23,000,456
Trazodone Desyrel SARI 18,786,495
Duloxetine Cymbalta SNRI 14,591,949
Paroxetine Paxil SSRI 12,979,366
Amitriptyline Elavil TCA 12,611,254
Venlafaxine XR Effexor XR SNRI 7,603,949
Bupropion XL Wellbutrin NDRI 7,317,814
Mirtazapine Remeron TeCA 6,308,288
Venlafaxine ER Effexor SNRI 5,526,132
Bupropion SR NDRI 4,588,996
Desvenlafaxine Pristiq SNRI 3,412,354
Nortriptyline Sensoval TCA 3,210,476
Bupropion ER NDRI 3,132,327
Venlafaxine Effexor SNRI 2,980,525
Bupropion Wellbutrin XL NDRI 753,516

Cộng hòa liên bang Đức: thuốc chống trầm cảm được kê đơn phổ biến nhất tại Đức được báo cáo là cao chiết xuất của Hypericum perforatum (St John's wort).[22]

Hà lan: Tại Hà lan, paroxetine, đưa ra thị trường với tên Seroxat là thuốc chống trầm cảm được kê đơn phổ biến nhất, theo sau là các thuốc thuộc nhóm chống trầm cảm ba vòng amitriptyline, citalopramvenlafaxine.[23]

Nhóm thuốc MAOIs hiệu quả như nhóm chống trầm cảm ba vòng, Dù vậy nhóm thuốc MAOIs vẫn ít được sử dụng hơn bởi vì chúng có nhiều tác dụng phụ và bị tuơng tác nhiều hơn so với nhóm chống trầm cảm ba vòng.

Xem thêm[sửa | sửa mã nguồn]

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Bodkin, J. Alexander; Zornberg, Gwen L.; Lukas, Scott E.; Cole, Jonathan O. (1995). “Buprenorphine Treatment of Refractory Depression”. Journal of Clinical Psychopharmacology 15 (1): 49–57. doi:10.1097/00004714-199502000-00008. PMID 7714228. 
  2. ^ Ghadirian, AM; Murphy, BE; Gendron, MJ (1998). “Efficacy of light versus tryptophan therapy in seasonal affective disorder”. Journal of Affective Disorders 50 (1): 23–7. doi:10.1016/S0165-0327(98)00053-6. PMID 9716275. 
  3. ^ Vega, Jason A. Wheeler; Mortimer, Ann M.; Tyson, Philip J. (2003). “Conventional Antipsychotic Prescription in Unipolar Depression, I”. The Journal of Clinical Psychiatry 64 (5): 568–74. doi:10.4088/JCP.v64n0512. PMID 12755661. 
  4. ^ Furukawa, Toshi A; Streiner, David; Young, L. Trevor; Kinoshita, Yoshihiro (2001). “Antidepressants plus benzodiazepines for major depression”. Trong Furukawa, Toshi A. Cochrane Database of Systematic Reviews (2): CD001026. doi:10.1002/14651858.CD001026. PMID 11405972. 
  5. ^ http://www.cet.org/eng/Therapy_ExposureRisks_ENG.html [cần chú thích đầy đủ]Bản mẫu:MEDRS
  6. ^ Weber, Matthias M; Emrich, Hinderk M (1988). “Current and Historical Concepts of Opiate Treatment in Psychiatric Disorders”. International Clinical Psychopharmacology 3 (3): 255–66. doi:10.1097/00004850-198807000-00007. PMID 3153713. 
  7. ^ Czygan, Franz-C. (2003). “Kulturgeschichte und Mystik des Johanniskrauts: Vom 2500 Jahre alten Apotropaikum zum aktuellen Antidepressivum” [From a 2500 year old apotropic comes a current antidepressive. The cultural history and mistique of St. John's wort]. Pharmazie in unserer Zeit (bằng tiếng Đức) 32 (3): 184–90. doi:10.1002/pauz.200390062. PMID 12784538. 
  8. ^ Selikoff, Irving J.; Robitzek, EH (1952). “Tuberculosis Chemotherapy with Hydrazine Derivatives of Isonicotinic Acid”. CHEST Journal 21 (4): 385–438. doi:10.1378/chest.21.4.385. PMID 14906149. 
  9. ^ a ă Healy, D (2001). “The Antidepressant Drama”. Trong Weissman, MM. The treatment of depression: bridging the 21st century. American Psychiatric Pub. tr. 10–1. ISBN 978-0-88048-397-1. Truy cập ngày 28 tháng 5 năm 2009. 
  10. ^ Healy, David (1996). The psychopharmacologists: interviews. London: Chapman and Hall. tr. 8. ISBN 978-1-86036-008-4. 
  11. ^ Healy, David (1998). The Psychopharmacologists: Volume 2. A Hodder Arnold Publication. tr. 132–4. ISBN 978-1-86036-010-7. 
  12. ^ http://www.cmcsb.com/tranquil.htm [cần chú thích đầy đủ]Bản mẫu:MEDRS
  13. ^ a ă Healy, David (1999). “The Three Faces of the Antidepressants: A Critical Commentary on the Clinical-Economic Context of Diagnosis”. The Journal of Nervous & Mental Disease 187 (3): 174–80. doi:10.1097/00005053-199903000-00007. PMID 10086474. 
  14. ^ Pletscher, A. (1991). “The discovery of antidepressants: A winding path”. Experientia 47 (1): 4–8. doi:10.1007/BF02041242. PMID 1999242. 
  15. ^ Domino, EF (1999). “History of modern psychopharmacology: A personal view with an emphasis on antidepressants”. Psychosomatic Medicine 61 (5): 591–8. PMID 10511010. 
  16. ^ Wong, DT; Bymaster, FP; Horng, JS; Molloy, BB (1975). “A new selective inhibitor for uptake of serotonin into synaptosomes of rat brain: 3-(p-trifluoromethylphenoxy). N-methyl-3-phenylpropylamine”. The Journal of Pharmacology and Experimental Therapeutics 193 (3): 804–11. PMID 1151730. 
  17. ^ Freeman, H. (1996). “Tolerability and safety of novel antidepressants”. European Psychiatry 11: 206s. doi:10.1016/0924-9338(96)88597-X. 
  18. ^ Linde, K.; Ramirez, G.; Mulrow, C. D; Pauls, A.; Weidenhammer, W.; Melchart, D. (1996). “St John's wort for depression--an overview and meta-analysis of randomised clinical trials”. BMJ 313 (7052): 253–8. doi:10.1136/bmj.313.7052.253. PMC 2351679. PMID 8704532. 
  19. ^ Müller, W (2003). “Current St. John's wort research from mode of action to clinical efficacy”. Pharmacological Research 47 (2): 101–9. doi:10.1016/S1043-6618(02)00266-9. PMID 12543057. 
  20. ^ Nathan, P. J. (2001). “Hypericum perforatum (St John's Wort): A non-selective reuptake inhibitor? A review of the recent advances in its pharmacology”. Journal of Psychopharmacology 15 (1): 47–54. doi:10.1177/026988110101500109. PMID 11277608. 
  21. ^ “Top 200 generic drugs by units in 2010”.  “Top 200 brand drugs by units in 2010”. 
  22. ^ Tyler, VE (1999). “Herbs Affecting the Central Nervous System”. Trong Janick J. Perspectives on New Crops and New Uses. ASHS Press. tr. 528. ISBN 978-0-9615027-0-6. Bản gốc lưu trữ ngày 27 tháng 4 năm 2009. Truy cập ngày 29 tháng 5 năm 2009. 
  23. ^ “GIPdatabank”. Gipdatabank.nl. Bản gốc lưu trữ ngày 6 tháng 12 năm 2008. Truy cập ngày 6 tháng 11 năm 2008.