Tiếng Nhật Trung cổ

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Tiếng Nhật Trung cổ
中古日本語
Khu vực Nhật Bản
Ngôn ngữ tuyệt chủng Phát triển đến cuối Thời kỳ Heian
Ngữ hệ Hệ ngôn ngữ Nhật Bản
  • Tiếng Nhật Trung cổ
Phân nhánh
Hệ chữ viết Hiragana, Katakana, và Kanji

Tiếng Nhật Trung cổ (Nhật: 中古日本語 chūko nihongo?) là một giai đoạn của tiếng Nhật được dùng từ năm 794 đến 1185, tức là vào Thời kỳ Heian. Nó là hậu duệ của tiếng Nhật cổ (上古日本語).

Bối cảnh[sửa | sửa mã nguồn]

Trong khi tiếng Nhật cổ vay mượn kiểu chữ Trung Quốc để viết tiếng Nhật, trong thời kỳ Trung cổ đã xuất hiện hai kiểu chữ mới: HiraganaKatakana. Bước tiến này đã đơn giản hóa việc viết chữ và đem đến một thời kỳ mới cho văn học Nhật Bản như những tác phẩm cổ Chuyện kể Genji, Chuyện kể Người chặt trúc, Chuyện kể Ise và nhiều câu chuyện khác.

Âm vị[sửa | sửa mã nguồn]

Những thay đổi về lớn về âm vị chính là những đặc điểm nổi bật của thời kỳ này:

Tiếng Nhật cổ có 86 âm tiết tách biệt, sang Tiếng Nhật Trung cổ chỉ còn 66.

a i u e o
ka ki ku ke ko
ga gi gu ge go
sa si su se so
za zi zu ze zo
ta ti tu te to
da di du de do
na ni nu ne no
ha hi hu he ho
ba bi bu be bo
ma mi mu me mo
ya   yu   yo
ra ri ru re ro
wa wi   we  

Sự khác nhau đáng chú ý nhất là sự lược bỏ Jōdai Tokushu Kanazukai (上代特殊仮名遣, "Kiểu Kana đặc biệt cổ") , kiểu chữ phân biệt rõ hai loại -i, -e, và -o. Trong khi giai đoạn bắt đầu lược bỏ này có thể dễ thấy ở cuối thời kỳ Tiếng Nhật cổ, nó đã hoàn toàn biến mất trong tiếng Nhật Trung cổ. Âm vị cuối cùng biến mất là /ko1/ và /ko2/.

Trong thế kỷ thứ 10, /e/ và /ye/ nhập thành /e/, còn đến thế kỷ 11 /o/ và /wo/ thành /o/[1][2][3].

Ngữ âm học[sửa | sửa mã nguồn]

Nguyên âm[sửa | sửa mã nguồn]

  • /a/: [a]
  • /i/: [i]
  • /u/: [u]
  • /e/: [je][1][2][3]
  • /o/: [wo]

Phụ âm[sửa | sửa mã nguồn]

/k, g/[sửa | sửa mã nguồn]

/k, g/: [k, g]

/s, z/[sửa | sửa mã nguồn]

/s, z/ gồm cả [s, z], [ts, dz], và [ʃ, ʒ]. Nó có thể khác nhau tùy vào nguyên âm theo sau, giống như tiếng Nhật hiện đại.

/t, d/[sửa | sửa mã nguồn]

/t, d/: [t, d]

/n/[sửa | sửa mã nguồn]

/n/: [n]

/h/[sửa | sửa mã nguồn]

/h/ tiếp tục nghe tương tự như [ɸ] . Với một ngoại lệ: Đến thế kỷ thứ 11, Giữa hai nguyên âm /h/ được đọc là [w].

/m/[sửa | sửa mã nguồn]

/m/: [m]

/y/[sửa | sửa mã nguồn]

/y/: [j]

/r/[sửa | sửa mã nguồn]

/r/: [r]

/w/[sửa | sửa mã nguồn]

/w/: [w]

Cấu trúc âm tiết[sửa | sửa mã nguồn]

Ngữ pháp[sửa | sửa mã nguồn]

Động từ[sửa | sửa mã nguồn]

Tuếng Nhật trung cổ thừa hưởng tất cả tám cách chia động từ từ tiếng Nhật cổ và thêm một cách mới: Hạ nhất đoạn (下一段).

Chia động từ[sửa | sửa mã nguồn]

Loại động từ Thể tự nhiên
未然形
Dạng phó từ
連用形
Thể xác định
終止形
Liên thể hình
連体形
Dĩ nhiên hình
已然形
Thể mệnh lệnh
命令形
Tứ đoạn (四段) -a -i -u -u -e -e
Thượng nhất đoạn (上一段) - - -ru -ru -re -(yo)
Thượng nhị đoạn (上二段) -i -i -u -uru -ure -i(yo)
Hạ nhất đoạn (下一段) -e -e -eru -eru -ere -e(yo)
Hạ nhị đoạn (下二段) -e -e -u -uru -ure -e(yo)
Bất quy tắc KA (カ変) -o -i -u -uru -ure -o
Bất quy tắc SA (サ変) -e -i -u -uru -ure -e(yo)
Bất quy tắc NA (ナ変) -a -i -u -uru -ure -e
Bất quy tắc RA (ラ変) -a -i -i -u -e -e

Thân phụ âm / Thân nguyên âm[sửa | sửa mã nguồn]

Động từ có gốc kết thúc bằng một phụ âm được gọi là Thân phụ âm. Những thứ này được được phân thành những lớp chia sau: Tứ đoạn, Thượng nhị đoạn, Hạ nhất đoạn, Hạ nhị đoạn, Bất quy tắc SA, Bất quy tắc RA, Bất quy tắc KA, và Bất quy tắc NA.

Động từ có gốc kết thức bằng nguyên âm gọi là Thân nguyên âm. Những thứ này được chia trong loại sai: Thượng nhất đoạn.

Động từ bất quy tắc[sửa | sửa mã nguồn]

Có vài động từ chia bất quy tắc

  • K-irregular: k- "đến"
  • S-irregular: s- "làm"
  • N-irregular: sin- "chết", in- "đi, chết"
  • R-irregular: ar- "có", wor- "có, tồn tại"

Loại chia động từ cho mỗi loại được đặt theo tên Thân phụ âm cuối.

Tính từ[sửa | sửa mã nguồn]

Có hai loại tính từ: tính từ thường và danh tính từ.

Tính từ thường được chia nhỏ làm hai loại: những dạng phó từ kết thúc bằng -ku và những dạng kết thúc bằng -siku. Điều này đã tạo ra hai nhóm chia khác nhau:

Nhóm tính từ Vị nhiên hình
未然形
Liên dụng hình
連用形
Chung chỉ hình
終止形
Liên thể hình
連体形
Dĩ nhiên hình
已然形
Mệnh lệnh hình
命令形
-ku   -ku -si -ki -kere  
-kara -kari -si -karu   -kare
-siku   -siku -si -siki -sikere  
-sikara -sikari -si -sikaru   -sikare

Dạng -kar- và -sikar- xuất phát từ động từ ar- "có, tồn tại". Chia phó từ (-ku hoặc -siku) đi theo su với ar-.Việc chia này tạo ra sự chia bất quy tắc RA của ar-. Kết quả -ua- đọc lướt thành -a-.

Danh tính từ vẫn giữ nguyên cách chia nar- gốc và thêm tar- mới:

Loại Vị nhiên hình
未然形
Liên dụng hình
連用形
Chung chỉ hình
終止形
Liên thể hình
連体形
Dĩ nhiên hình
已然形
Mệnh lệnh hình
命令形
Nar- -nara -nari
-ni
-nari -naru -nare -nare
Tar- -tara -tari
-to
-tari -taru -tare -tare

Nar- và tar- tạo thành từ nguyên chung. Dạng nar- là một các rút gọn của hậu tố ni và động từ bất quy tắc RA ar- "thì, là": ni + ar- > nar-. Dạng tar- là sự rút gọn của hậu tố to và động từ bất quy tắc RA ar- "thì, là": to + ar- > tar-. Cả hai xuất phát từ động từ ar-.

Hệ thống chữ viết[sửa | sửa mã nguồn]

Tiếng Nhật Trung cổ được viết bằng ba cách khác nhau. Theo như lưu giữ lại sớm nhất trong Man'yōgana, chữ Trung Quốc được dùng như phiên âm vào thời kỳ Tiếng Nhật cổ. Cách sử dụng này sau đó đã cho ra đời bảng chữ cái hiraganakatakana xuất phát từ sự đơn giản hóa những ký tự Trung Quốc đi.

Ghi chú[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ a ă Kondō, Nihongo no Rekishi, pages 67-71
  2. ^ a ă Yamaguchi, Nihongo no Rekishi, pages 43-45
  3. ^ a ă Frellesvig, page 73

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  • Yamaguchi, Akiho; Hideo Suzuki, Ryūzō Sakanashi, Masayuki Tsukimoto (1997). Nihongo no Rekishi. Tōkyō Daigaku Shuppankai. ISBN 4-13-082004-4. 
  • Kondō, Yasuhiro; Masayuki Tsukimoto, Katsumi Sugiura (2005). Nihongo no Rekishi. Hōsō Daigaku Kyōiku Shinkōkai. ISBN 4-595-30547-8. 
  • Ōno, Susumu (2000). Nihongo no Keisei. Iwanami Shoten. ISBN 4-00-001758-6. 
  • Martin, Samuel E. (1987). The Japanese Language Through Time. Yale University. ISBN 0-300-03729-5. 
  • Shibatani, Masayoshi (1990). The languages of Japan. Cambridge University Press. ISBN 0-521-36918-5. 
  • Frellesvig, Bjarke (1995). A Case Study in Diachronic Phonology: The Japanese Onbin Sound Changes. Aarhus University Press. ISBN 87-7288-489-4. 

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]