Vương Lâm

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm

Vương Lâm (chữ Hán: 王琳, 526 – 573), tự là Tử Hành (chữ Hán: 子珩), người Cối Kê, Sơn Âm. Ông là nhà chính trị, tướng lĩnh nhà Lương thời Nam Bắc triều trong lịch sử Trung Quốc.

Thân thế[sửa | sửa mã nguồn]

Vương Lâm xuất thân là con nhà tướng. Cha ông là Vương Hiển Tự, làm Thường thị của Tương Đông Vương Tiêu Dịch - sau này trở thành Lương Nguyên Đế. Bởi Lương Nguyên Đế sủng ái chị em gái của ông nên Vương Lâm chưa làm lễ đội mũ[1] đã được làm tả hữu bên cạnh vua.

Khi còn nhỏ, Vương Lâm thích võ nghệ, muốn sau này trở thành tướng soái.

Tham gia dẹp Hầu Cảnh[sửa | sửa mã nguồn]

Năm 548, Hầu Cảnh làm phản, triều đình lệnh cho Vương Lâm chuyển đến vạn thạch gạo. Vương Lâm chưa đến nơi, đô thành Kiến Khang đã bị phá, bèn đánh chìm gạo xuống sông, đi thuyền nhẹ về Kinh châu. Không lâu sau Lâm được đổi làm Lạc Dương nội sử, nhờ quân công lại được phong làm Kiến Ninh huyện hầu. Hầu Cảnh phái Tống Tử Tiên chiếm cứ Dĩnh châu, Vương Lâm đánh phá được, bắt Tử Tiên. Sau đó ông theo Vương Tăng Biện phá Hầu Cảnh và được thăng làm thứ sử Tương châu.

Bị nghi suýt chết[sửa | sửa mã nguồn]

Có công phóng túng[sửa | sửa mã nguồn]

Vương Lâm quả quyết mạnh mẽ hơn người, lại thường khuynh thân hạ sĩ, được thưởng gì đều không mang về nhà. Ông có hàng vạn thủ hạ, phần nhiều là giặc cướp ở Giang Hoài. Công lao bình định Hầu Cảnh, Vương Lâm và Đỗ Kham đều là bậc nhất, họ lại cậy mình được Nguyên Đế sủng ái nên buông thả cho thuộc hạ làm nhiều chuyện bạo ngược ngay tại Kiến Nghiệp. Vương Tăng Biện không thể ngăn cấm được, sợ họ làm loạn, tâu xin giết đi.

Lục Nạp làm phản[sửa | sửa mã nguồn]

Lâm cũng biết sắp tai vạ, lệnh cho Trưởng sử Lục Nạp soái bộ khúc của mình đi trước về Tương Châu, còn mình đi tắt đến Giang Lăng. Khi chia tay, Vương Lâm và bọn Lục Nạp đều rơi nước mắt. Lâm vừa đến nơi, Nguyên đế cho bắt lại, sai Đình úy khanh Hoàng La Hán,Thái phủ khanh Trương Tái tuyên dụ quân của Lâm. Trương Tái tính tình khắc nghiệt, người Kinh Châu căm ghét ông như kẻ thù. Bọn Lục Nạp không chịu thụ mệnh, họ móc ruột của Trương Tái, quấn vào chân ngựa rồi ruổi đi. Ruột đứt thì Trương Tái cũng hết hơi, còn bị đem ra băm vằm. Lương Nguyên Đế sai Vương Tăng Biện thảo phạt Nạp, Nạp thua chạy về Trường Sa.

Khi ấy binh lực của Vũ Lăng vương Tiêu Kỷ đang rất thịnh, quan dân Giang Lăng vô cùng hoang mang. Lục Nạp dâng biểu xin tội cho Vương Lâm, còn nói nếu Lâm được khôi phục tước vị, xin nguyện mãi mãi làm nô tỳ. Lương Nguyên Đế thấy Tương Châu không thể bình ngay được, bèn cùm Lâm đưa đến Trường Sa. Lâm đến vừa gặp lúc bọn Lục Nạp ra thành ứng chiến, Vương Tăng Biện đưa Lâm lên lâu xa cho bọn họ nhìn thấy. Bọn Nạp đều cầm ngược giáo cúi lạy, toàn quân đều khóc, mà rằng “Xin để Vương lang vào thành, sẽ lập tức ra hàng ngay.” Vương Tăng Biện đồng ý thả Lâm vào thành, bọn Nạp bèn ra hàng, Tương Châu bình xong.

Vương Lâm được khôi phục tước vị, đi đánh Tiêu Kỷ. Bình được Kỷ, nhận chức Hành Châu thứ sử.

Lương Nguyên Đế tính đa nghi, thấy bộ hạ của Vương Lâm quá đông, Lâm lại được lòng người, lấy cớ điều ông ra khỏi Tần Lĩnh, nhận chức Đô đốc, thứ sử Quảng Châu. Vương Lâm biết mình bị nghi ngờ, nên đành đưa bộ hạ đi Lĩnh Nam.

Xưng thần ba nước[sửa | sửa mã nguồn]

Lương Nguyên Đế bị quân Tây Ngụy vây bức, gọi Vương Lâm về cứu viện, phong làm thứ sử Tương châu. Quân của Vương Lâm đến Trường Sa, biết quân Ngụy đã hãm được Giang Lăng, lập Tiêu Sát làm Lương Vương, bèn cử ai cho Lương Nguyên Đế, ba quân để tang.

Ông phái biệt tướng Hầu Bình đưa thủy quân đến đánh Tiêu Sát. Vương Lâm đóng quân ở Trường Sa, truyền hịch các nơi, bàn bạc sách lược hành động. Khi Trường Sa Vương Tiêu Thiều đến thượng du, chư tướng tôn Lâm làm minh chủ.

Lúc ấy Hầu Bình tuy chưa thể vượt sông, nhưng liên tiếp đánh bại quân Hậu Lương, binh uy phấn chấn, bèn không chịu tiếp nhận sự chỉ huy của Vương Lâm.

Vương Lâm phái binh đến đánh, Bình chạy đến nương nhờ thứ sử Giang châu Hầu Thiến, rồi quay về chống lại. Quân đội của Vương Lâm già yếu mệt mỏi không thể tiến thêm. Vương Lâm sai sứ đến Tề dâng biểu, xin hiến voi lành; lại nhân vì vợ con ông bị quân Tây Ngụy bắt được, nên sai sứ đến Ngụy nộp tiền chuộc về, Tây Ngụy thái sư Vũ Văn Thái nhận lời. Vương Lâm lại xin đưa di hài của Nguyên Đế và thái tử Nguyên Lương trở về, Vũ Văn Thái cũng chấp nhận. Vương Lâm an táng cho cha con Nguyên Đế, vẫn dùng tư cách bề tôi để báo lên triều đình nhà Lương. Như vậy là Vương Lâm một lúc xưng thần với ba nước.

Duy trì nhà Lương[sửa | sửa mã nguồn]

Lập Tiêu Trang[sửa | sửa mã nguồn]

Trần Bá Tiên giết được Vương Tăng Biện, đưa Kính Đế phục vị, phong Vương Lâm làm thị trung, tư không. Ông không chịu nhận lệnh, cất quân chống lại.

Vương Lâm có hơn ngàn chiến hạm. Trần Bá Tiên phái Hầu An Đô, Chu Văn Dục đến đánh. Hai bên đánh nhau ở Độn Khẩu, Vũ Xương. Hầu An Đô, Chu Văn Dục, Từ Kính Thành [2] bị bắt sống. Vương Lâm cho giam họ trong thuyền hạm, sai hoạn quan thân tín là Vương Tử Tấn canh giữ, chỉ cho chém đầu Chu Thiết Hổ.

Vương Lâm đóng quân ở Dĩnh Thành, có hơn 10 vạn, luyện binh ở bến sông Bạch Thủy. Vương Lâm phái Lý Hiếu Khâm, Phàn Mãnh, Dư Hiếu Khoảnh đi đánh Giang Nam cừ soái Hùng Đàm Lãng, Chu Địch. Vì Phàn Mãnh và Dư Hiếu Khoảnh nảy sinh bất hòa, Phàn bỏ mặc không tiếp ứng Dư, khiến cho cả ba cánh quân đều thua, các tướng trở thành tù nhân. Khi ấy, ba người Hầu, Chu, Từ dụ dỗ Vương Tử Tấn để được thả ra, lên một chiếc thuyền con mà vào bờ, rồi chạy bộ mà thoát thân.

Vào lúc quân Ngụy công phá Giang Lăng, Tiêu Trang mới bảy tuổi, trốn vào nhà dân, may mắn thoát nạn. Vương Lâm đón về Tương châu, lại đưa cháu của mình sang Bắc Tề, xin lập Tiêu Trang làm vua nhà Lương. Văn Tuyên Đế cho quân đến tăng viện, còn cho Vương Lâm làm thừa tướng nhà Lương, đô đốc trung ngoại chư quân, lục thượng thư sự. Các xá nhân Dương Khác, Du Thuyên Chi trao tỉ thư biểu dương công lao của Lâm. Tiêu Trang lên ngôi ở Dĩnh Châu, nhận Lâm làm Thị trung, Sứ trì tiết, Đại tướng quân, Trung thư giám, cải phong An Thành quận công, mọi việc chịu sự chi phối của nhà Bắc Tề.

Trần Bá Tiên lên ngôi, Vương Lâm đưa Tiêu Trang về Nhu Tu Khẩu. Bắc Tề phái Dương Châu đạo hành đài Mộ Dung Nghiễm đến tăng viện. Nhà Trần phái Ngô Minh Triệt nhân đêm tối đến tập kích Bồn Thành, Lâm sai Ba Lăng thái thú Nhiệm Trung đánh bại cánh quân ấy, chỉ có Ngô chạy thoát được.

Đông hạ thất bại[sửa | sửa mã nguồn]

Vương Lâm muốn đưa quân xuống phía đông, nhà Trần sai Hầu An Đô dẫn quân ra chống cự. Hầu Thiến thấy quân của Vương Lâm đang mạnh, bèn đưa quân vào Vu Hồ để tránh. Khi gió tây nam bất ngờ nổi lên, ông cho rằng đây là ý trời giúp mình, liền đưa quân đánh thẳng đến Kiến Khang. Hầu Thiến ra khỏi Vu Hồ, đuổi theo ông. Hai bên giao chiến, quân Vương Lâm muốn phóng hỏa đốt thuyền của địch quân, lại bị gió tây nam thổi ngược lại. Đội thuyền hạm của Lâm bốc cháy, trở nên rối loạn tan vỡ, binh sĩ nhảy xuống nước mà chết hết 2, 3 phần 10. Còn lại đều bỏ thuyền lên bờ, bị quân Trần giết gần hết.

Ban đầu Vương Lâm mệnh cho Tả trưởng sử Viên Bí, Ngự sử trung thừa Lưu Trọng Uy cùng cầm quân bảo vệ Tiêu Trang. Nghe tin bại trận, Bí đầu hàng nhà Trần, còn Trọng Uy đưa Trang về Lịch Dương. Vương Lâm tìm được Tiêu Trang cùng đến Nghiệp đô.

Bắc Tề Hiếu Chiêu Đế sai Vương Lâm ra Hợp Phì, tập hợp ở Nghĩa Cố, thay đổi phương lược tiến đánh. Ông cho đóng chiến hạm, chiêu mộ binh sĩ, khôi phục thực lực. Thứ sử Hợp Châu nhà Trần là Bùi Cảnh Huy đồng thời là con rể của Vương Mân - anh ông - xin làm tư thuộc, dẫn đường cho quân Tề. Hiếu Chiêu Đế ủy cho Lâm và Hành đài tả thừa Lư Tiềm soái binh ứng phó, nhưng họ mãi vẫn không quyết. Cảnh Huy sợ việc bị tiết lộ, nên ra mặt đầu hàng Bắc Tề.

Hiếu Chiêu Đế ban cho Vương Lâm tỉ thư, lệnh cho ông trấn thủ Thọ Dương, cho mang theo tất cả bộ hạ cũ, làm Phiêu kị đại tương quân, Khai phủ nghi đồng tam tư, Dương Châu thứ sử, phong Hội Kê Quận Công.

Vương Lâm ở Thọ Dương bất hòa với Lư Tiềm. Triều đình biết được, triệu ông về Nghiệp. Ông được phong Thương Châu thứ sử, về sau được đặc tiến làm Thị Trung.

Bị bắt ở Thọ Dương[sửa | sửa mã nguồn]

Nhà Tề phái Úy Phá Hồ làm tướng cứu viện Tần Châu, chống cự với Ngô Minh Triệt nhà Trần, lệnh cho Vương Lâm làm Kinh lược. Lâm khuyên Phá Hồ rằng: thiên tượng bất tường, Ngô binh tinh nhuệ, không nên vội đánh, Phá Hồ không nghe nên đại bại. Lâm một mình một ngựa phá vây, chạy thoát được.

Vương Lâm về đến Bành Thành, Tề Đế lại phái ông đến Thọ Dương, hứa sẽ thêm quân, còn phong làm Ba Lăng Quận Vương. Ngô Minh Triệt tiến binh vây đánh, chặn Phì Thủy rót nước vào thành. Khi ấy tướng Bắc Tề là Bì Cảnh Hòa đóng quân ở Hoài Tây, không dám đến cứu. Ngô Minh Triệt quyết đoán rằng cứu binh của Lâm không đến, ngày đêm tấn công. Trong thành bị thủy khí xâm nhập, mọi người bị phù thũng, bệnh chết rất nhiều. Thành bị vây từ tháng 7 đến tháng 10 thì bị hãm, Vương Lâm bị bắt.

Ngô Minh Triệt muốn đưa Vương Lâm về Giang Lăng, trăm họ đi theo khóc lóc tiễn biệt. Minh Triệt sợ Lâm gây biến, nên giết chết ông ở phía đông bắc ngoài thành Thọ Dương 20 dặm.

Đánh giá[sửa | sửa mã nguồn]

Vương Lâm ngoại hình nhàn nhã, tóc dài chấm đất, vui giận không lộ ra. Tuy ông không học hành gì, nhưng sáng suốt nhớ dai, trong phủ có hơn nghìn người, vẫn có thể nhớ rõ danh tính của họ. Vương Lâm không lạm hình phạt, khinh tài ái sĩ, rất được lòng sĩ tốt.

Khi ông bị bắt, trăm họ thương xót, thủ hạ của Ngô Minh Triệt cũng xin cho ông, vì thế Minh Triệt đâm ra ganh ghét, giết chết ông. Nghe tin Vương Lâm chết, không ai không rơi nước mắt.

Gia đình[sửa | sửa mã nguồn]

Vương Lâm có mười bảy con trai. Con trưởng là Kính, được thừa kế Vương tước ở Tề, làm đến thường thị. Con trai thứ chín là Diễn, làm Khai phủ nghi đồng tam tư nhà Tùy, khi mất đang ở chức Du Châu thứ sử.

Xem thêm[sửa | sửa mã nguồn]

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  • Nam sử
  • Tướng soái cổ đại Trung Hoa - Trịnh Phúc Điền, Khả Vĩnh Quyết, Dương Hiệu Xuân - NXB Thanh niên, 2002

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Chưa trưởng thành
  2. ^ Con trai của Từ Độ