Vị thành niên

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm

Vị thành niên là một khái niệm chưa được thống nhất. Theo Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) lứa tuổi 10 - 19 tuổi là độ tuổi vị thành niên. Thanh niên trẻ là lứa tuổi 19 - 24 tuổi. Chương trình Sức khỏe sinh sản/Sức khỏe tình dục vị thành niên-thanh niên của khối Liên minh châu Âu (EU) và Quỹ Dân số Liên Hiệp Quốc (UNFPA) lấy độ tuổi 15 - 24 tuổi.

Việt Nam vị thành niên là lứa tuổi từ 10 đến 19 tuổi. Thanh niên là từ 19 - 24 tuổi. Trẻ em được luật pháp bảo vệ chăm sóc giáo dục là dưới 16 tuổi. Về mặt luật pháp vị thành niên là dưới 18 tuổi.

Hội KHHGĐVN xác định vị thành niên - thanh niên là 10 - 24 tuổi.

  • Vị thành niên:10 - 19 tuổi, chia làm 2 giai đoạn:
    • giai đoạn đầu từ 10 - 14 tuổi
    • giai đoạn sau từ 15 - 19 tuổi
  • Thanh niên:19 - 24 tuổi
  • Thanh thiếu niên:10 - 24 tuổi

Theo Luật Thanh niên được thông qua vào ngày 29/11/2005 tại kỳ họp thứ 8 Quốc hội khóa XI và được Chủ tịch nước công bố tại lệnh số 24/2005/L/CTN ngày 09/12/2005 thì độ tuổi của thanh niên là "từ đủ 16 tuổi đến 30 tuổi"[cần dẫn nguồn].

Trên thế giới, các nước cũng có quy định về độ tuổi thanh niên khác nhau:nhiều nước quy định từ 18 đến 24 tuổi hoặc 15 - 24 tuổi, một số nước quy định từ 15 - 30 tuổi, có nước quy định tuổi "trần" của thanh niên là 29 tuổi (Trung Quốc) hoặc 35 tuổi (Bangladesh), thậm chí tới 40 tuổi (Malaysia)[cần dẫn nguồn]. Như vậy có thể thấy rằng độ tuổi thanh niên còn được quy định rất khác nhau giữa các nước trên thế giới.