Adam Baworowski

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Adam Baworowski
Polish-Chinese Davis Cup match 1939.jpg
Baworowski (thứ tư từ phải sang) vào năm 1939
Quốc gia Cờ của Áo Áo (1918–38)
Cờ của Ba Lan Ba Lan (1938–41)
Cờ của Đức Quốc Xã Đức (1941–43)
Ngày sinh 9 tháng 8 năm 1913
Nơi sinh Viên, Đế quốc Áo Hung
Ngày mất 1943
Nơi mất Stalingrad, Liên Xô
Năm chơi chuyên nghiệp 1929 (amateur tour)
Gác vợt 1941
Tay thuận right-handed (one-handed backhand)
Đánh đơn
Các giải Grand Slam
Pháp mở rộng 4R (1937, 1938)
Wimbledon 1R (1933, 1936, 1939)
Đánh đôi
Kết quả giải đôi Grand Slam
Pháp mở rộng SF (1939)
Wimbledon 2R (1936, 1939)
Giải đôi nam nữ
Kết quả giải đôi nam nữ Grand Slam
Pháp mở rộng 2R (1937)
Wimbledon 2R (1936, 1939)

Adam Baworowski (phát âm tiếng Ba Lan: [ˈadam bavɔˈrɔfskʲi]; sinh ngày 9 tháng 8 năm 1913 tại Vienna – mất năm 1943 tại Stalingrad[1]) là tay vợt người Áo-Ba Lan.

Tiểu sử[sửa | sửa mã nguồn]

Đầu đời và gia đình[sửa | sửa mã nguồn]

Bá tước Adam Baworowski là hậu duệ của gia đình quý tộc Ba Lan Baworowski. Ông là con trai của bá tước Rudolf Baworowski và nữ bá tước Maria Chorynsky.[2][3] Ông có ba chị em gái và ba em trai là Emil, Stefan, Rudolf, Matylda, Marya and Franciszka.[4] Ông đã học tại Viên.[3]

Ông bắt đầu chơi quần vợt từ rất sớm và tham gia các câu lạc bộ quần vợt ở Prater.[3] Năm 1927, Ông đã có một chuyến thắng trước Henner Henkel tại Thế vận hội Thanh niên. Năm 1929, ở độ tuổi 13, ông đã đánh bại nhà vô địch Ba Lan Maximilian Stolarow. [5]Năm 1931, Ông đã giành được giải vô địch quần vợt Áo cũng như giải vô địch quốc tế của Berlin ở nội dung đơn và đôi khá hay. [3] Như vậy ông được xếp hạng thứ 10 trong bảng xếp hạng của Áo.[6] Năm sau đó ông được xếp hạng 5. [7] Trong khi vào năm 1934 ông được xếp thứ tư trong cùng một danh sách. [6] Năm 1935 ông giành được chiến thắng trong giải quốc gia trong thể loại đơn. Ông vương lên vị trí thứ hai sau [6][3] Matejka.[8] Sau đó ông trở thành thành viên của Wiener Park Club.[9]

Quần vợt Chuyên nghiệp Quốc tế[sửa | sửa mã nguồn]

Thế chiến II và cái chết[sửa | sửa mã nguồn]

Tổ tiên[sửa | sửa mã nguồn]

[4]

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

Công trình trích dẫn[sửa | sửa mã nguồn]

Truyền thông Trực tuyến[sửa | sửa mã nguồn]

Sách[sửa | sửa mã nguồn]

  • Kaiser, Ulrich. “Weltgeschichte und die Regel 33”. Trong Deutscher Tennis Bund. Tennis in Deutschland. Von den Anfängen bis 2002. [Tennis in Germany. From the beginnings to 2002.] (bằng tiếng Đức). Berlin: Duncker & Humblot. tr. 159–161. ISBN 3-428-10846-9. 

Xuất bản định kỳ[sửa | sửa mã nguồn]

Xem thêm[sửa | sửa mã nguồn]

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]