Anrê Phú Yên

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Anrê Phú Yên
Tượng đài Chân phước Anrê Phú Yên đặt tại giáo xứ Mằng Lăng
Tử đạo tiên khởi của Việt Nam
Sinh 1624[1]
Tuy An, Phú Yên, Việt Nam
Mất 1644 (19 tuổi)
Kẻ Chàm, Quảng Nam, Việt Nam
Chân phước 5 tháng 3, 2000, Vatican bởi Giáo hoàng Gioan Phaolô II
Đền chính Nhà thờ Mằng Lăng
Lễ kính 26 tháng 7
Quan thầy của giáo lý viên

Anrê Phú Yên (sinh khoảng năm 1625, mất khoảng năm 1644) là một tu sĩ Công giáo, đã được phong chân phước ngày 5 tháng 3 năm 2000 bởi Giáo hoàng Gioan Phaolô II.[2]. Ông cũng được xem là một trong những vị quan thầy của giáo lý viên và giới trẻ Công giáo thế giới.

Hiện vẫn chưa biết ông tên thật là gì, nhưng 2 chi tiết được xác nhận theo tên thánh của ông là Anrê và nơi sinh là Phú Yên. Tên này sử dụng rất phổ biến trong những ngày tưởng niệm. Một số tài liệu khác cho rằng, lúc nhỏ ông có tên như những đứa trẻ nông thôn khác, sau khi được rửa tội năm 1541, ông được đặt tên thánh là Anrê, và từ đó ông không sử dụng tên cũ nữa, mọi người cứ gọi ông theo tên thánh là Anrê.

Tiểu sử[sửa | sửa mã nguồn]

Anrê Phú Yên sinh vào khoảng năm 1625 hoặc 1626, gần trị sở dinh Trấn Biên[3], nay thuộc thôn Hội Phú, xã An Ninh, huyện Tuy An, tỉnh Phú Yên, Việt Nam[4]. Anrê là con út của một người phụ nữ mộ đạo tên thánh là Gioanna.[5]

Năm 1641, Linh mục Alexandre de Rhodes đã rửa tội cho ông cùng với 91 người khác. Ông được đặt tên thánh là Anrê. Mẹ đỡ đầu của ông là Quận chúa Maria Mađalêna Ngọc Liên, vợ Trấn thủ Trấn Biên Nguyễn Phúc Vinh. Ông tham gia vào tổ chức của linh mục Alexandre de Rhodes với vai trò là giáo lý viên (còn gọi là thầy giảng). Năm 1642, ông được linh mục Alexandre de Rhodes đưa ra Hội An để học trường các thầy giảng, trở thành học viên xuất sắc nhất mặc dù còn trẻ.

Ngày 31 tháng 7 năm 1643, cùng với một số đồng bạn, ông phát lời nguyện tận hiến đi phục vụ Giáo hội suốt đời, tức là đi phụ giúp các linh mục truyền giáo và cổ vũ giáo dân. Sau đó, ông cùng các bạn đi truyền giáo ở các tỉnh Thuận Hóa, Quảng Trị, Quảng Nam.

Việc truyền đạo gặp rất nhiều khó khăn do quan niệm của các quan lại ảnh hưởng Tam giáo cho rằng đạo Công giáo là bàng môn tả đạo cần phải bị diệt trừ. Ngày 25 tháng 7 năm 1644, trong khi truyền đạo ở Quảng Nam, ông bị quan binh sở tại bắt giữ và tống giam vào ngục. Khi đưa ra công đường, quan viên sở tại nhiều lần khuyên ông bỏ đạo để bảo toàn tính mạng, tuy nhiên ông đã từ chối, cương quyết xưng mình là Kitô hữu và là thầy giảng, và sẵn sàng hy sinh mạng sống để trung thành với Chúa Kitô.

Ngày 26 tháng 7 năm 1644, ông bị tuyên án giải giao thị chúng và trảm thủ. Ngay chiều hôm đó, ông bị giải qua các phố ở Kẻ Chàm, Quảng Nam. Tương truyền, ông bị đâm nhiều nhát giáo xuyên cạnh sườn rồi bị chém đầu sau đó.[6]

Thi hài[sửa | sửa mã nguồn]

Ngày 15 tháng 8 năm 1644, thi hài của ông được linh mục Alexandre de Rhodes mang đến Macao, và được an táng tại nhà thờ Thánh Phaolô ở đó. Riêng thủ cấp của ông thì được linh mục Alexandre de Rhodes mang theo bên mình cho đến khi được cất giữ tại nhà Bề trên Tổng quyền Dòng Tên ở Rôma.

Xem thêm[sửa | sửa mã nguồn]

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ WYD02 Saints: Blessed Andrew of Phu Yen – Protomartyr of Vietnam
  2. ^ Sắc lệnh của Bộ Phong thánh tuyên phong chân phúc, ngày 5-3-2000
  3. ^ Tài liệu các giáo sĩ Pháp ghi nơi sinh của ông tại tỉnh Ranan thuộc Cocincina)
  4. ^ Lược tóm cuộc đời Chân phước Anrê Phú Yên của Hội đồng Mục vụ Việt Nam
  5. ^ http://www.catholic.org.tw/vntaiwan/andre/4andre.htm
  6. ^ Bản Tuyên bố về cuộc tử đạo của tôi tớ Chúa Anrê Thầy giảng giáo dân, của Bộ Phong thánh Vatican

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]