Công ước Liên Hiệp Quốc về Hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Công ước Liên Hiệp Quốc về Hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế
Công ước Liên Hiệp Quốc về Hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế (CISG)
United Nations Convention on Contracts for the International Sale of Goods.png

   đã phê chuẩn

   đã ký nhưng chưa phê chuẩn

Loại hiệp ước luật mua bán hàng hóa quốc tế thống nhất
Ngày ký
Địa điểm
11 tháng 4 năm 1980
Viên, Áo
Có hiệu lực
Điều kiện
1 tháng 1 năm 1988
10 quốc gia phê chuẩn
Bên ký kết 17
Bên tham dự 77
Nơi lưu giữ Tổng thư ký Liên Hiệp Quốc
Các ngôn ngữ Tiếng Ả Rập, tiếng Trung, tiếng Anh, tiếng Pháp, tiếng Nga và tiếng Tây Ban Nha

Công ước Liên Hiệp Quốc về Hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế (CISG, Công ước Viên 1980[1]) là một hiệp ước quy định một luật mua bán hàng hóa quốc tế thống nhất. Tính đến tháng 8 năm 2010, nó đã được phê chuẩn bởi 77 quốc gia chiếm một tỷ lệ đáng kể trong hoạt động thương mại thế giới, làm cho nó trở thành một trong những pháp luật quốc tế thống nhất thành công nhất. Benin là nhà nước gần đây nhất phê chuẩn công ước này. CISG cho phép nhà xuất khẩu tránh vấn đề lựa chọn pháp luật, CISG cung cấp "chấp nhận các quy tắc nội dung mà các bên ký kết hợp đồng, tòa án, và trọng tài viên có thể dựa vào"[2].

CISG được phát triển bởi Ủy ban Liên Hiệp Quốc về Luật Thương mại quốc tế (UNCITRAL), và đã được ký kết tại Viên vào năm 1980. CISG đôi khi được gọi là Công ước Viên (nhưng không phải là để bị nhầm lẫn với các điều ước khác được ký kết tại Viên). Nó có hiệu lực như một hiệp ước đa phương vào ngày 1 tháng 1 năm 1988, sau khi được phê chuẩn bởi 11 quốc gia[3]. CISG đã được coi như là một thành công cho UNCITRAL, do kể từ đó bản công ước đã được chấp nhận bởi các quốc gia ở nhiều khu vực địa lý khác nhau, mỗi giai đoạn phát triển kinh tế và tất cả các hệ thống pháp luật, xã hội và kinh tế lớn "[4]. Các nước đã phê chuẩn CISG được đề cập trong hiệp ước là" Các quốc gia ký kết ". Trừ khi bị loại trừ bởi các điều khoản thể hiện của một hợp đồng[5], CISG được coi là được kết hợp vào (và thay thế) bất kỳ pháp luật trong nước nào nếu không áp dụng liên quan đến một giao dịch hàng hoá giữa các bên tham gia từ các quốc gia ký kết khác nhau[6]. Trong số các công ước của pháp luật thống nhất, CISG đã được mô tả là có "ảnh hưởng lớn nhất đối với pháp luật về thương mại xuyên biên giới trên toàn thế giới".

CISG đã được mô tả như là một thành tựu lập pháp tuyệt vời[7], và "tài liệu quốc tế thành công nhất cho đến nay" về luật mua bán hàng hóa quốc tế thống nhất[8], một phần do tính linh hoạt của nó cho phép các quốc gia ký kết các tùy chọn ngoại lệ đối với một số điều khoản nhất định. Sự linh hoạt này là đã giúp cho việc thuyết phục các quốc gia với truyền thống pháp lý khác nhau đăng ký một quy định thống nhất khác. Một số nước đã ký kết các CISG đã tuyên bố và dành riêng một số điều khoản thuọc phạm vi của công ước này[9], mặc dù đại đa số - 55 trong số 76 quốc gia ký kết hiện nay - đã chọn tham gia Công ước mà không có bất kỳ điều khoản dành riêng nào.

Các quốc gia đã phê chuẩn[sửa | sửa mã nguồn]

   đã phê chuẩn

   đã ký nhưng chưa phê chuẩn

Thời điểm ngày 1 tháng 8 năm 2010[10]

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ United Nations Convention on Contracts for the International Sale of Goods, Vienna, 11 April 1980, S.Treaty Document Number 98-9 (1984), UN Document Number A/CONF 97/19, 1489 UNTS 3. The full text of the CISG is available in pdf format at http://www.uncitral.org/uncitral/en/uncitral_texts/sale_goods/1980CISG.html at 22 December 2007.
  2. ^ Ban thương mại Liên Hiệp Quốc, {{thế:PAGENAME}}’ http://www.osec.doc.gov/ogc/occic/cisg.htm at 22 December 2007.
  3. ^ Argentina, Trung Quốc, Ai Cập, Pháp, Hungary, Italy, Lesotho, Syria, Hoa Kỳ, Nam Tư và Zambia.
  4. ^ John Felemegas, ‘The United Nations Convention on Contracts for the International Sale of Goods: Article 7 and Uniform Interpretation (2000)’ Pace Review of the Convention on Contracts for the International Sale of Goods (CISG) 115.
  5. ^ Standard clauses in English and in German (opt-in/opt-out): See Verweyen, Foerster, Toufar Handbuch des Internationalen Warenkaufs UN-Kaufrecht (CISG) 2. Auflage, 2008 pg. 64 (tiếng Anh) and (tiếng Đức)
  6. ^ Tuyên bố này chỉ áp dụng cho Hoa Kỳ, Cộng hòa Séc và Trung Quốc, xem Article 1,1B/95 Verweyen, Foerster, Toufar Handbuch des Internationalen Warenkaufs UN-Kaufrecht (CISG) 2. Auflage, 2008 pt. 21.2 pg 248 (tiếng Đức)
  7. ^ Joseph Lookofsky, ‘Loose Ends and Contorts in International Sales: Problems in the Harmonization of Private Law Rules’ (1991) 39 American Journal of Comparative Law 403.
  8. ^ Bruno Zeller, CISG and the Unification of International Trade Law (1st ed, 2007) 94.
  9. ^ Xem Danh sách các quốc gia ký kết và các tuyên bố và dành riêng liên quan tại http://www.uncitral.org/uncitral/en/uncitral_texts/sale_goods/1980CISG_status.html at 22 December 2007.
  10. ^ The status of signatories is listed at http://www.uncitral.org/uncitral/en/uncitral_texts/sale_goods/1980CISG_status.html at 1 January 2010, and is updated whenever the UNCITRAL Secretariat is informed of changes in status of the Convention.