Cao Ly Nhân Tông

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Cao Ly Nhân Tông
Hangul 인종
Hanja (Hán tự) 仁宗
Hán-Việt Nhân Tông
Romaja quốc ngữ Injong
McCune-Reischauer Injong

Nhân Tông (1109–1146, trị vì 1122–1146) là quốc vương thứ 17 của Cao Ly. Ông là con trai cả của Cao Ly Duệ TôngThuận Đức vương hậu (Sundeok Wanghu). Ông có tên húy là Vương Khải (王楷, 왕해, Wang Hae), tên chữ là Nhân Biểu (仁表, 인표, Inpyo).

Trong phần lớn thời gian trị vì của ông, triều đình do Lý Tư Khiêm (Yi Ja-gyeom) thống trị, tức nhạc phụ của ông, và các thành viên khác của gia tộc Lý tại Gyeongwon. Sau khi Nhân Tông cố gắng đoạt lại quyền lực, Lý Tư Khiêm đã tiến hành chính biến năm 1126. Với sự giúp đỡ của các lãnh đạo các châu, Nhân Tông đã chiến thắng vào năm 1127. Năm 1135, Nhân Tông đối mặt với một cuộc nổi dậy khác của nhà sư Diệu Thanh (Myo Cheong).

Năm 1145, Nhân Tông ra lệnh biên soạn Tam quốc sử ký (Samguk Sagi), một bộ sử về thời kỳ Tam Quốc Triều TiênTân La Thống nhất.

Gia đình[sửa | sửa mã nguồn]

  • Phế phi họ Lý (con gái thứ 3 của Lý Tư Khiêm)
  • Phế phi họ Lý (con gái thứ 4 của Lý Tư Khiêm)
  • Cung Duệ vương hậu (Gong-ye Wanghu, 1109~1183)
    • Nghị Tông
    • Đại Ninh hầu (Daenyeong-hu)
    • Dực Dương hầu (Ikyang-hu)
    • Nguyên Kính quốc sư (Wongyeong Guksa)
    • Bình Lương công (Pyeongnyang-gong)
    • Thừa Khánh cung chủ (Seunggyeong Gungju)
    • Đức Ninh cung chủ (Deognyeong Gungju)
    • Xương Lạc cung chủ (Changnak Gungju)
    • Vĩnh Hòa cung chủ (Yeonghwa Gungju)
  • Tuyên Bình vương hậu (Seonpyeong Wanghu)

Xem thêm[sửa | sửa mã nguồn]

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]