Cao Ly Tĩnh Tông

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Cao Ly Tĩnh Tông
Hangul 정종
Hanja (Hán tự) 靖宗
Hán-Việt Tĩnh Tông
Romaja quốc ngữ Jeongjong
McCune-Reischauer Chŏngjong

Tĩnh Tông (1018–1046, trị vì 1034–1046) là người cai tị thứ 10 của vương triều Cao Ly tại Triều Tiên. Ông là con trai thứ hai của Cao Ly Hiển Tông, và là vương đệ của Cao Ly Đức Tông. Năm lên 4 tuổi, tức 1022, ông được phong làm "nội sử lệnh" (Naesaryeong), một vị trí cấp cao và trở thành Bình Nhưỡng quân (Pyeong-yang-gun). Ông có tên húy là Vương Hanh (王亨, 왕형, Wang Hyeong), tên chữ là Thân Chiếu (申照, 신조, Sinjo)

Tĩnh Tông đã rất quan tâm đến việc binh, và đã bắt đầu cho xây các thành phòng thủ dọc theo biên giới phía bắc ngay trong năm đầu tiên trị vì. Năm 1037, Cao Ly bị quân Khiết Đan ở phía bắc xâm lược. Năm 1044, Thiên Lý Trường Thành (Cheolli Jangseong) được hoàn thành và chắn ngang biên giới miền bắc của đất nước. Tĩnh Tông cũng quan tâm đến việc hỗ trợ vật chất cho quân lính, cấp đất công cho binh lính nghèo khổ năm 1036.

Trước khi ông qua đời vào năm 1046, Tĩnh Tông đã cho ban hành chế độ con trưởng kế vị (trưởng tử tương tục pháp).

Gia đình[sửa | sửa mã nguồn]

  • Phụ thân: Cao Ly Hiển Tông.
  • Mẫu thân: Nguyên Thành vương hậu (Wonseong Wanghu).
  • Dung Tín vương hậu (Yongsin Wanghu) họ Hàn (Han).
  • Dung Ý vương hậu (yong-ui Wanghu) họ Hàn (Han).
    • Ai Thương quân (Aesang-gun).
    • Lạc Lãng hầu (Naknang-hu).
    • Khai Thành hầu (Gaeseong-hu).
  • Dung Mục vương hậu (Yongmog Wanghu) họ Lý (Lee/Yi).
    • Điệu Ai công chúa (Doae Gongju).
  • Dung Tiết đức phi (Yongjeol Deokbi) họ Kim.
  • Diên Xương cung chủ (Yeonchang Gungju) họ Lưu (No).

Xem thêm[sửa | sửa mã nguồn]