Chiến tranh Anh-Zanzibar

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Chiến tranh Anh-Zanzibar
Lâu đài sau khi bị bắn phá
Lâu đài sau khi bị bắn phá
.
Thời gian 09 giờ - 09 giờ 45 phút giờ địa phương, ngày 27 tháng 8 năm 1896
Địa điểm Zanzibar
Kết quả Đế quốc Anh chiến thắng
Tham chiến
Flag of the United Kingdom.svg Đế quốc Anh Flag of the Sultanate of Zanzibar.svg Zanzibar
Chỉ huy
Cờ của Vương quốc Liên hiệp Anh và Bắc Ireland Harry Rawson
Cờ của Vương quốc Liên hiệp Anh và Bắc Ireland Lloyd Mathews
Flag of the Sultanate of Zanzibar.svg Khalid bin Bargash
Flag of the Sultanate of Zanzibar.svg Saleh
Lực lượng
900 người lính chính quy; phân đội Hải quân Hoàng gia (không biết quân số); HMS Philomel; HMS Thrush; HMS Sparrow; HMS Racoon; HMS St George 2.800 người lính; HHS Glasgow
Tổn thất
1 người bị thương[1] 500 người chết hay bị thương,[2]
tất cả pháo bị bắt hay vô hiệu hoá
1 du thuyền hoàng gia bị chìm,
2 tàu bị chìm
.

Chiến tranh Anh-Zanzibar được chiến đấu giữa Vương quốc Liên hiệp Anh và IrelandZanzibar vào ngày 27 tháng 8 năm 1896. Vì chỉ diễn ra trong thời gian 45 phút, nó giữ kỷ lục chiến tranh ngắn nhất trong lịch sử.

Chiến tranh này bùng nổ sau khi Sultan (vua) Hamad bin Thuwaini, người đã vui lòng hợp tác với chính quyền thuộc địa Anh, qua đời ngày 25 tháng 8 năm 1896, và cháu ông, Khalid bin Bargash, nắm chính quyền trong cuộc đảo chính. Chính phủ Anh thích ứng cử viên khác, Hamud bin Muhammed, vì họ tin rằng hợp tác với người này dễ dàng hơn, nên họ gửi tối hậu thư yêu cầu Bargash thoái vị. Bargash từ chối, và thay vào đó xây dựng quân đội với khoảng 2.800 lính và du thuyền vũ trang H.H.S. Glasgow của cựu vương đang neo lại trong cảng. Khi quân đội của Bargash đang củng cố lâu đài, Hải quân Hoàng gia tập hợp năm tàu chiến tại sảnh đằng trước lâu đài. Họ tập hợp ba tàu tuần tiễu hiện đại, tàu bọc sắt loại Edgar HMS St George, tàu bảo vệ loại Pearl HMS Philomel, tàu loại Archer HMS Racoon, và hai pháo hạm HMS ThrushHMS Sparrow. Quân đội Anh cũng cho Hải quân Hoàng gia đổ bộ để ủng hộ quân chính quy "trung thành" của Zanzibar, có 900 lính trong hai tiểu đoàn dẫn đầu là tướng Lloyd Mathews, trước là trung úy của Hải quân Hoàng gia.

Mặc dù Sultan cố gắng đàm phán hòa bình vào lúc cuối cùng dùng đại biểu Mỹ trên đảo đó, những tàu Hải quân bắt đầu bắn phá lâu đài vào lúc 9 giờ sáng ngày 27 tháng 8 năm 1896, ngay khi tối hậu thư hết hạn. Tàu Glasgow bị chìm sau đó không lâu, và trong lúc lâu đài đang sụp đổ và ngày càng nhiều người bị thương, Bargash vội vàng rút lui tới tòa lãnh sự Đức, ở đấy ông được nương náu. Bên Anh ngừng bắn sau 45 phút.

Vương quốc Anh đòi Đức phải giao lại cựu vương, nhưng ông thoát ra biển ngày 2 tháng 10 năm 1896. Ông sống ở Dar es Salaam đến khi bị Anh bắt vào năm 1916. Về sau ông được sống ở Mombasa, ông qua đời tại thành phố đó năm 1927. Trong hành động cuối cùng, Anh đòi chính phủ Zanzibar phải trả chi phí của các đại bị bắn vào nước đó.

Nguồn gốc[sửa | sửa mã nguồn]

Zanzibar là một quốc đảo ở Ấn Độ Dương, ngoài bờ biển Tanganyika; ngày nay lãnh thổ này thuộc về Tanzania. Hòn đảo đã từng nằm dưới quyền cai trị trên danh nghĩa của các Sultan Oman kể từ năm 1698 khi họ trục xuất những người định cư Bồ Đào Nha vốn đã khẳng định chủ quyền vào năm 1499.[3] Sultan Majid bin Said tuyên bố hòn đảo độc lập khỏi Oman vào năm 1858, và sau đó ông đã được công nhận bởi Vương quốc Anh, và chia tách vương lãnh thổ này khỏi Oman.[3] Các sultan kế tục sau đó đã thiết lập kinh đô và các cơ quan chính phủ tại Thị trấn Zanzibar, và xây dựng một phức hợp cung điện hướng ra biển. Đến năm 1896, nơi này bao gồm một cung điện; kèm theo hậu cung có tên là Beit al-Hukm; và Beit al-Ajaib hay "Ngôi nhà của Các kỳ quan"—một cung điện lộng lẫy được cho là toà nhà đầu tiên ở Đông Phi có sử dụng điện.[4] Phức hợp được xây dựng chủ yếu bằng các cây gỗ ở tại địa phương và không được thiết kế cho mục đích phòng thủ.[5] Tất cả ba toà nhà chính đều nằm kế cận nhau theo hàng, và nối với nhau bằng các cây cầu ở trên cao.[6]

Anh quốc đã có một thời gian dài tiếp xúc với Zanzibar và đã công nhận chủ quyền của hòn đảo này và các sultan của nó vào năm 1886.[3][7][8] Kết quả là nước Anh duy trì các mối quan hệ thân thiện với đất nước này và các sultan trị vì.[3] Tuy nhiên, nước Đức cũng để mắt đến khu vực Đông Phi và hai cường quốc tranh giành quyền kiểm soát thương mại và lãnh thổ trong khắp khu vực vào cuối thế kỷ 19.[9] Sultan Khalifah đã trao quyền kiểm soát lãnh thổ Kenya cho nước Anh và tương tự là Tanganyika cho nước Đức, việc này cũng dẫn tới lệnh cấm buôn nô lệ ở những lãnh thổ này.[3] Nhiều tầng lớp Ả rập cao trị bất bình với sự can thiệp vào công việc kinh doanh sinh lời của họ và đã dẫn tới một số cuộc bạo động.[3] Ngoài ra, chính quyền Đức ở Tanganyika đã từ chối treo lá cờ của sultan Zanzibar, việc này dẫn đến các cuộc đụng độ vũ trang giữa lính Đức và dân địa phương.[10] Một cuộc đụng độ như vậy ở Tanga đã khiến cho 20 người Ả rập thiệt mạng.[10]

Sultan Khalifah đã gửi các binh lính Zanzibari được chỉ huy bởi Tướng Lloyd Mathews, một cựu Đại uý của Hải quân Hoàng gia Anh, đến để tái lập trật tự ở Tanganyika.[11] Chiến dịch đã thành công phần lớn, nhưng tinh thần chống Đức giữa những người Zanzibari vẫn còn rất mạnh.[10] Các xung đột tiếp theo nổ ra ở Bagamoyo nơi 150 người bản xứ bị giết bởi quân đội Đức và tại Ketwa nhà chức trách Đức và những người phục vụ họ bị ám sát.[11] Sau đó Khalifah đã trao quyền thương mại rộng rãi cho Công ty Đế quốc Anh ở Đông Phi (IBEAC), công ty này sau đó cùng với sự trợ giúp của Đức đã thực hiện phong toả đường biển để có thể tiếp tục việc buôn bán nô lệ nội địa.[11] Khi Khalifah mất vào năm 1890 Ali bin Said đã kế ngôi vị sultan.[12] Sultan Ali đã ban hành lệnh cấm buôn bán nô lệ nội địa (nhưng không cấm sở hữu nô lệ),tuyên bố Zanzibar nằm dưới sự bảo trợ của Anh quốc và bổ nhiệm Tể tướng người Anh đứng đầu chính phủ. Đáp lại nước Anh cũng đảm bảo việc nghiêm cấm sự chỉ định của các sultan trong tương lai.[13]

Năm lên ngôi của Ali cũng chứng kiến việc ký kết Hiệp ước Heligoland-Zanzibar giữa Anh và Đức. Hiệp ước này đã chính thức phân chia khu vực ảnh hưởng của hai cường quốc ở Đông Phi và nhượng lại quyền giao thương ở Zanzibar cho Anh quốc.[14] Việc này đã trao cho chính phủ Anh thêm nhiều ảnh hưởng ở Zanzibar, và họ định sử dụng quyền này để loại bỏ chế độ nô lệ ở nơi này, một việc mà họ đã đeo đuổi từ năm 1804.[15][16]

Người kế vị Sultan Ali là Hamad bin Thuwaini, vốn chính thức lên ngôi vào năm 1893. Hamad đã duy trì một mối quan hệ thân thiết với Anh nhưng vẫn có những bất đồng do sự quan ngại về sự kiểm soát ngày càng tăng của Anh đối với đất nước, và việc quân đội do Anh dẫn đầu đã bãi bỏ chế độ buôn bán nô lệ sinh lời.[13] Để giải quyết bất đồng, nhà chức trách anh đã trao quyền cho sultan tăng số bảo vệ cung điện Zanzibari lên 1.000 người, nhưng những binh lính này sau đó đã chạm trán với lực lượng cảnh sát do Anh quốc đứng đầu.[17][18] Các lời than phiền về hoạt dộng của lực lượng bảo vệ cũng đến từ các cư dân châu Âu khác ở thị trấn Zanzibar.[13]

Ngày 25 tháng 8[sửa | sửa mã nguồn]

Sultan Hamad mất đột ngột vào lúc 11:40 EAT (08:40 UTC) ngày 25 tháng 8, 1896.[13] Người cháu trai 29 tuổi Khalid bin Bargash, bị nghi ngờ do một số hành động ám sát của ông này,[13] đã chuyển tới phức hợp cung điện tại Thị trấn Zanzibar mà không có sự chấp thuận của Anh quốc, đi ngược lại với hiệp ước đã ký với Ali.[13] Chính phủ Anh lại ủng hộ một nhân vật khác thay thế, đó là Hamud bin Muhammed, người này đã được họ sắp đặt từ trước. Khalid sau đó đã được cảnh báo từ cơ quan lãnh sự và ngoại giao ở Zanzibar, Basil Cave, và Tướng Mathews nghiên cứu kỹ về hành động ông này.[18][19] Sự việc diễn tiến thuận lợi khi ba năm sau Khalid đã cố khẳng định chức vị sultan cái chết của Ali và viên tổng lãnh sự Anh, Rennell Rodd, đã cảnh báo ông về sự nguy hiểm của hành động này.[20]

Khalid đã bỏ qua cảnh báo của Cave và lực lượng của ông bắt đầu tập hợp ở quảng trưởng của cung điện dưới quyền chỉ huy của Đại uý Saleh trưởng bộ phận bảo vệ cung điện. Đến cuối ngày, họ có được 2.800 người được vũ trang bằng súng trường và súng hoả mai.[19] Phần lớn trong số họ là dân thường như cũng bao gồm cả 700 lính Zanzibari Askari ủng hộ Khalid.[19][21] Trang bị đội pháo của sultan bao gồm vài súng máy Maxim, một súng Gatling, một đại bác bằng đồng từ thế kỷ 17 và hai pháo dã chiến 12 pounder, nhắm vào các tàu của Anh quốc ở trong cảng.[19][21][22] Các khẩu 12 pounder được giới thiệu cho sultan là từ Hoàng đế Đức Wilhelm II.[19] Các binh lính của sultan cũng nắm cả Hải quân Zanzibari bao gồm một tàu cột buồm bằng gỗ, the HHS Glasgow, được đóng làm du thuyền hoàng gia cho sultan vào năm 1878 dựa trên tàu frigate HMS Glasgow của Anh.[23]

Ngày 26 tháng 8[sửa | sửa mã nguồn]

Ngày 27 tháng 8[sửa | sửa mã nguồn]

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]


Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Lỗi chú thích: Thẻ <ref> sai; không có nội dung trong thẻ ref có tên hernon403
  2. ^ Bennett 1979, tr. 179.
  3. ^ a ă â b c d Hernon 2003, tr. 397.
  4. ^ Hoyle 2002, tr. 156–157.
  5. ^ Hernon 2003, tr. 402.
  6. ^ Hoyle 2002, tr. 160.
  7. ^ Bennett 1978, tr. 131–132.
  8. ^ Hernon 2000, tr. 146–147.
  9. ^ Bennett 1978, tr. 124–131.
  10. ^ a ă â Hernon 2003, tr. 398.
  11. ^ a ă â Hernon 2000, tr. 147.
  12. ^ Bennett 1978, tr. 165.
  13. ^ a ă â b c d Hernon 2003, tr. 399.
  14. ^ Text of the Heligoland-Zanzibar Treaty (PDF), German History in Documents and Images, 1 tháng 7 năm 1890, truy cập ngày 29 tháng 9 năm 2008 
  15. ^ Bản mẫu:Cite hansard
  16. ^ Bản mẫu:Cite hansard
  17. ^ Hernon 2000, tr. 148.
  18. ^ a ă Bennett 1978, tr. 178.
  19. ^ a ă â b c Hernon 2003, tr. 400.
  20. ^ Tucker 1970, tr. 194.
  21. ^ a ă “A Warning to Said Khalid”, The New York Times, 27 tháng 8 năm 1896: 5, truy cập ngày 16 tháng 10 năm 2008 .
  22. ^ Patience 1994, tr. 9.
  23. ^ Patience 1994, tr. 5.

Xem thêm[sửa | sửa mã nguồn]