Chuột hams

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Chuột hams
Thời điểm hóa thạch: Miocene giữa - nay
Phodopus roborovskii sand.JPG
Phân loại khoa học
Giới (regnum) Animalia
Ngành (phylum) Chordata
Lớp (class) Mammalia
Bộ (ordo) Rodentia
Phân bộ (subordo) Myomorpha
Liên họ (superfamilia) Muroidea
Họ (familia) Cricetidae
Phân họ (subfamilia) Cricetinae
Fischer de Waldheim, 1817
Các chi

Chuột hams, hamster, hay chuột đất vàng[1], trong từ điển dịch là chuột hang vì là loài thường hay đào hang, là một loài động vật gặm nhấm thuộc phân họ Cricetinae, bao gồm 25 loài thuộc 6 hoặc 7 chi khác nhau[2]. Được nuôi để làm các thí nghiệm khoa học và hiện nay còn để làm thú nuôi cho những người yêu thích vật nuôi nhỏ. Chuột hams được phát hiện tại một thành phố gần Siberia vào năm 1829.

Đặc điểm[sửa | sửa mã nguồn]

Chuột hams không phải thuộc loài họ chuột thông thường (họ Chuột) như chuột cống, chuột nhắt, chuột đồng... mang nhiều mầm bệnh. Mà thực ra chúng thuộc họ Cricetidae, sinh sống ngoài tự nhiên, thường đào hang và có hai túi má để dự trữ thức ăn. Chúng thường sống ở hoang mạc, bán hoang mạc, hoặc nơi có khí hậu ôn đới, không phải loài chuột đồng thường phá hoại mùa màng.

Chuột hams có kích thước nhỏ; bộ lông mềm bao phủ khắp cơ thể. Chúng có nhiều loại và nhiều màu lông khác nhau (đen, xám, vàng, trắng, trắng tuyền, vàng kim...). Chuột hams có đuôi nhưng cực kì ngắn và có 1 lớp lông mỏng bao phủ dường như chẳng để làm gì cả.

Tỉ lệ sinh sản của Hamster rất cao, thời gian mang thai của nó khoảng 16-20 ngày. Mỗi bào thai có thể sinh ra 6-8 con (có loài có thể từ 8-11 con). Hamster lúc mới sinh ra có màu hồng, chưa có lông và cũng chưa mở mắt. Lúc này không nên chạm vào Hamster con vì như thế sẽ làm cho hamster mẹ căng thẳng và ăn mất con.

Hamster là động vật hoạt động vào ban đêm nên ban ngày cần phải ngủ từ 12-14h, đêm đến thì mới hoạt động và kiếm ăn, thông thường 19-22h là hoạt động mạnh nhất. Nếu tùy tiện thay đổi tập tính đó thì chúng sẽ dễ bị tổn thọ.

Hamster có khuynh hướng thích ăn các loại hạt, đặc biệt là hạt hướng dương. Thức ăn chính là hạt ngũ cốc bao gồm tiểu mạch, đậu phộng, hạt dẻ,... Thức ăn phụ là rau, trái cây nhưng những loại trái cây có tính chua thì nên tránh để khỏi bị tiêu chảy. Những loại thực phẩm có tính dính cao hoặc những thức ăn quá ngọt thì không nên cho Hamster ăn vì có thể dẫn đến hiện tượng bị sâu răng. Nước uống cho Hamster nên là nước uống đã đun sôi (hoặc nước mưa đã lọc thật kĩ). Lượng thức ăn nên nhiều, không nên ít quá vì như thế sẽ làm cho tâm lý dự trữ lương thực của nó không tốt. Thức ăn phải luôn tươi mới, thường thì 2 ngày sẽ thay một lần.

Nguồn gốc và xuất xứ của chuột hams[sửa | sửa mã nguồn]

Vào năm 1839, báo cáo của nhà động vật học người Anh George Waterhous cho biết đã tìm được một con chuột hams cái già ở Syria, tên khoa học của nó là Cricetus auratus, còn gọi bằng tên thông thường là Golden Hamster (tạm dịch: chuột hams vàng). Trong năm 1930, các nhà động vật học và giáo sư của trường đại học Jerusalem Aharoni tìm được một con chuột hams mẹ và vài con con của nó ở sa mạc Syria. Và họ đã đem chúng về phòng thí nghiệm, phần lớn chết và trốn thoát. Số chuột hams còn lại được trao cho Trường Đại học Hebrew ở Jerusalem, tại đó họ đã gây thành công giống chuột hams tương tự như Golden Hamster. Tuy nhiên, chúng to hơn một chút so với giống chuột hams mà Waterhouse tìm được, và tên khoa học của chúng là Mesocricetus auratus, mặc dù có thể chắc chắn rằng tất cả chúng đều cùng một loài.

Chuột hams được chuyển đến tất cả các phòng thí nghiệm trên thế giới. Chúng tới Anh vào năm 1931,và 1938 thì nhu nhập vào Mỹ. Còn giống Golden Hamster được sinh từ những con thuần chủng tìm thấy ở Syria với số lượng rất ít, nó được bán ra từ những du khách đem từ sa mạc Syria về. Có hẳn một kho riêng biệt quan trọng lưu trữ hamster ở Mỹ vào năm 1971,nó sẽ không bao giờ được biết đến nếu không vì những con vật cưng của Bắc Mỹ đều có nguồn gốc từ chúng.

Giống Phodopus campbelli, Phodopus sungorus được giới thiệu ở Hội chợ thú nuôi Anh năm 1970. Chuột hams Roborovski từ Hà Lan đã du nhập vào Anh vào năm 1990.

Chuột hams được sử dụng trong các thí nghiệm, nghiên cứu khoa học do chúng không mang trên mình mầm bệnh và sinh sôi rất nhanh (một lứa đẻ mới mỗi tháng), ngoài ra lại còn rất thân thiện và dễ dàng bồng bế. Chúng thường được dùng làm động vật thí nghiệm trong nghiên cứu về bệnh tim mạch vì hệ thống tim mạch của chúng giống hệ thống tim mạch của con người một cách đáng ngạc nhiên.

Các loại chuột hams[sửa | sửa mã nguồn]

Một winter white hamster màu pearl

Trên thị trường hiện bán các loại chuột hams chủ yếu để làm vật nuôi:

  • Phodopus sungorus: mắt đen, thuần chủng có các màu lông agouti (tiếng Việt gọi là màu sóc), sapphire (xám tro), pearl (trắng sọc đen). Bản tính thường hiền lành, dạn người. Có thể lai với Campbell's Dwarf Hamster.
  • Phodopus campbelli: mắt đỏ hoặc đen, có các màu lông albino (bạch tạng - lông trắng mắt đỏ), agouti, argente (màu trà sữa), opal (lông xanh xám, bụng trắng, mắt đen), đen, mottled (lông lốm đốm giống bò sữa), platinum (trắng, mắt đen)... thường dữ hơn Winter-white.
  • Phodopus roborovskii: kích thước nhỏ nhất, mắt đen, thường có màu lông nâu, mặt nâu hoặc trắng, đôi khi cũng có màu bạch kim (trắng toàn thân).
  • Golden hoặc Mesocricetus auratus: tiếng Việt thường gọi là Hamster bear, kích thước lớn nhất, có rất nhiều màu lông khác nhau.

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]