Daewoo K1

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Daewoo K1
Daewoo K1A SMG at Defense Asia 2006 0.jpg
Mẫu Daewoo K1A
Loại Súng trường tấn công
Nguồn gốc  Hàn Quốc
Lược sử hoạt động
Trang bị 1981 - Nay
Quốc gia sử dụng
Sử dụng trong
Lược sử chế tạo
Nhà thiết kế
Năm thiết kế 1977 - 1982
Nhà sản xuất S&T Daewoo
Giai đoạn sản xuất 1980 - Nay
Thông số kỹ chiến thuật
Khối lượng 2,87 kg
Chiều dài 838 mm (báng mở) / 653 mm (báng gấp)
Cỡ nòng  263 mm (10,4in)

Đạn 5.56x45mm NATO
Cơ cấu hoạt động Nạp đạn bằng khí nén, Thoi nạp đạn xoay
Tốc độ bắn 700-900 viên/phút
Sơ tốc 820 m/s
Tầm bắn hiệu quả 250 m
Cơ cấu nạp Các loại hộp đạn dạng STANAG.
Ngắm bắn Điểm ruồi

Daewoo K1súng trường tấn công hiện đại đầu tiên được phát triển bởi Cơ quan Phát triển Quốc phòng Hàn Quốc và sản xuất bởi S&T Daewoo. Loại súng này đã được thông qua và đưa vào sử dụng trong lực lượng quân đội Hàn Quốc năm 1981.

K1 dùng để thay thế các khẩu M16 sử dụng trong quân đội Hàn Quốc từ những năm 1970. Nhưng các khẩu Daewoo K2 tốt hơn xuất hiện từ năm 1987 đã bắt đầu thay thế các khẩu K1 trong việc sản xuất và đưa vào sử dụng.

Phát triển[sửa | sửa mã nguồn]

Việc phát triển loại súng này bắt đầu từ năm 1978 sau khi ROKASWC (Chỉ huy các lực lượng đặc nhiệm quân đội của Hàn Quốc) đưa ra yêu cầu về một loại súng cơ động cũng như có hỏa lực tốt để thay thế các khẩu súng tiểu liên M3 của Hoa Kỳ vốn đã cũ. Nguyên mẫu thử nghiệm đã được giới thiệu năm 1980 và năm 1981 thì được đưa vào phục vụ. Năm 1982 phiên bản nâng cấp Daewoo K1A1 được thông qua và đưa vào sản xuất hàng loạt.

Thiết kế[sửa | sửa mã nguồn]

K1 sử dụng cơ chế nạp đạn bằng khí nén với hệ thống trích khí trực tiếp, dùng loại đạn 5.56x45mm NATO cũng như các hộp đạn rời dạng thẳng kiểu STANAG. Báng súng của loại súng này có thể đẩy vào và rút ra để tiết kiệm không gian. Hệ thống nhắm cơ bản là điểm ruồi nhưng cũng có các thanh răng để gắn các hệ thống nhắm khác.

Phiên bản đầu của K1 gặp các vấn đề như độ giật quá cao cũng như tiếng ồn và chớp sáng khi sử dụng. Nên phiên bản K1A1 đưa vào chế tạo năm 1982 đã tích hợp thêm bộ phận chống chớp sáng với 3 lỗ để hạn chế độ giật cũng như bổ sung thêm chế độ bắn ba viên để tăng độ chính xác. Tất cả các khẩu K1 được chế tạo trước đó đều được sửa chữa thành K1A1.

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]