GBU-43/B

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
GBU-43/B Massive Ordnance Air Blast bomb
Mẹ của các bom đang chờ để thử nghiệm tại trung tâm Eglin Air Force Armament ngày 11 tháng 3, 2003

Loại Demolition bomb
Nguồn gốc  United States
Lược sử hoạt động
Trang bị 2003-Present
Quốc gia sử dụng United States Air Force
Lược sử chế tạo
Nhà thiết kế Air Force Research Laboratory
Năm thiết kế 2002
Nhà sản xuất McAlester Army Ammunition Plant
Giai đoạn sản xuất 2003
Số lượng chế tạo 17
Thông số kỹ chiến thuật
Khối lượng 22,600 lb (10.3 tonnes)
Chiều dài 30 ft, 1.75 inches (9.17 m)
Đường kính 40.5 in (102.9 cm)

H-6
 đầu nổ 18,700 lb (8.48 tonnes)
Sức nổ 11 tons

Bom GBU-43/B (MOAB) có tên thông dụng Mẹ của các loại bom (Mother Of All Bombs) là một loại bom thường có cỡ rất lớn được thiết kế và trang bị cho Quân đội Hoa Kỳ bởi Albert L. Weimorts Jr. Tại thời điểm đưa vào trang bị, nó là loại vũ khí phi hạt nhân mạnh nhất trên thế giới.[1] Bom được thiết kế để thả từ máy bay vận tải C-130.

Sau đó, Nga đã chế tạo và thử nghiệm quả bom có tên Cha của các loại bom ("Father of All Bombs") và công bố nó mạnh hơn gấp 4 lần bom MOAB[2][3].

Mục lục

Lịch sử phát triển [sửa]

Bom MOAB được nghiên cứu và phát triển theo một dự án công nghệ của Phòng nghiên cứu của Không quân Hoa Kỳ bắt đầu từ năm tài chính 2002, là hậu duệ của BLU-82 "Daisy cutter". Nó đã qua 5 lần thử nghiệm thành công ở một cơ sở không quân Eglin Air Force Base, thuộc Florida vào 11 tháng 3, 2003 và những cuộc kiểm tra khác trong giữa tháng 11. Phòng nghiên cứu Không quân Hoa Kỳ nói, đã có một phiên bản khác còn lớn hơn bom MOAB, với khối lượng tổng cộng là 13 tấn.[4]

Mô tả [sửa]

MOAB có chiều dài 9,17 m (30 feet), đường kính của bom là 102,9 cm, khối lượng là 21.000 lb. (9,5 tấn), chứa 18.700 lb. (8,4 tấn) các thuốc nổ mạnh. Bán kính nổ phá là 137,61m, tuy nhiên sóng xung kích cực lớn được được tạo ra trong không khí có thể có thể san bằng tới 9 khu nhà trong thành phố. Do có khối lượng và kích cỡ cực lớn, nó phải được thả từ các máy bay có khả năng chở siêu nặng, thường là C-130; tuy nhiên, máy bay C-17 cũng có khả năng phù hợp.[cần dẫn nguồn] Bom được dẫn hướng bằng Hệ thống định vị toàn cầu và sử dụng dù để kéo nó ra ngoài khoang chứa, do vậy nó có thể được thả từ độ cao lớn hơn và có độ chính xác lớn hơn so với các bom hạng nặng thế hệ trước như BLU-82. Nó là loại vũ khí đầu tiên của Hoa Kỳ có sử dụng loại cánh đuôi kiểu của Nga (loại cánh đuôi ở hai bên kiểu của Belotserkovski)[5], tương tự như R-400 OkaVympel R-77. Nó chỉ nhẹ hơn một chút so với Bom động đất T-12 trong Đệ nhị thế chiến.

Bom MOAB sử dụng 18.700 pound thuốc nổ H6 nhồi vào thân làm chất nổ.[6] Với sức công phá mạnh hơn 1,35 lần so với TNT, H-6 là một loại thuốc nổ mạnh được sử dụng bởi Quân đội Mỹ. H6 là hỗn hợp của RDX (Hexogen), TNT, và bột nhôm.[7]

Chú thích [sửa]

  1. ^ “Did Russia Stage the Father of All Bombs Hoax?”. Wired.com. 4 tháng 102007. Truy cập ngày 4 tháng 10 năm 2007. 
  2. ^ Russia tests 'dad of all bombs'
  3. ^ Associated Press. Russia Tests Powerful 'Dad of All Bombs'
  4. ^ Zachary, Stacia. “Five years later its still known as Mother of all bombs”. 
  5. ^ Zaloga, Steve (2000). "The Scud and Other Russian Ballistic Missile Vehicles". New Territories, Hong Kong: Concord Publications Co. ISBN 962-361-675-9. 
  6. ^ jagcnet (DOC)
  7. ^ http://www.globalsecurity.org/military/systems/munitions/moab.htm

Liên kết ngoài [sửa]