PETN

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm

PETN Cấu trúc hóa học
PETN

1,3-Dinitrato-2,2-bis
(nitratomethyl)propane
Tên quy định IUPAC
Công thức hóa học C5H8N4O12
Phân tử gam 316,14 g/mol
Nhạy nổ với va chạm Trung bình
Nhạy nổ với ma sát Trung bình
Mật độ 1,773 g/cm³ tại 20°C
Tốc độ truyền nổ 8.400 m/s
Tương đương TNT 1,66
Điểm nóng chảy 141,3 °C
Điểm phát nổ Phân hủy tại 190 °C
Bề ngoài Trắng, không mùi,
kết tinh, rắn.
Số CAS 78-11-5
PubChem 6518
SMILES C(C(CO[N+](=O)[O-])(CO[N+](=O)[O-])
CO[N+](=O)[O-])O[N+](=O)[O-]

PETN (pentaerythritol tetranitrat, tên thường gọi: penthrit; công thức hóa học: C(CH2ONO2)4) là một trong số những chất nổ mạnh nhất đã biết, nó nhậy nổ ma sát và nhậy nổ chấn động hơn TNT, không bao giờ sử dụng một mình làm thuốc dẫn nổ. PENT ban đầu được dùng làm thuốc dẫn nổ và thuốc nổ chính của đạn nhỏ, nay nó được dùng làm thuốc nổ sau trong kíp nổ, được dùng làm thuốc lõi của dây truyền nổ.

Trong dược phẩm, PETN được dùng làm thuốc dãn mạch như glyceryl trinitrat, "lentonitrat", là PETN nguyên chất.[1]

Tính chất[sửa | sửa mã nguồn]

Là một chất hóa học bền. Bảo quản vận chuyển dễ hơn RDX. Tan mạnh trong methyl acetate, có thể phân hủy trong acetone, tan một ít trong ethanolbenzene.

Tốc độ truyền nổ của PETN khi mật độ 1,7 g/cm³ là 8.400 m/s. Mật độ tối đa của tinh thể khoảng 1,773 g/cm³, chảy ở 141 °C.

Các thông số kỹ thuật:

Ảnh hưởng tới môi trường[sửa | sửa mã nguồn]

PETN không phải là một chất có sẵn trong tự nhiên, nên nó ảnh hưởng không tốt với môi trường. PETN bị phân hủy bởi vi khuẩn, khi nó thải ra từ phân hay nước tiểu chưa xử lý, hoặc sản phẩm không bảo quản. Theo một số báo cáo, PETN bị phân hủy bởi vi khuẩn, denitrat chuyển thành các trinitratdinitrat, pentaerythritol dinitrat là sản phẩm cuối cùng được biết đến, sau đó chưa rõ.

Điều chế[sửa | sửa mã nguồn]

Nitrát hóa pentaerythritol, bằng hốn hợp axít sulfuricaxít nitric đậm đặc. Một phương pháp được ưa chuộng là ICI, theo phương pháp này, người ta nitrát hóa bằng riêng axít nitric đậm đặc, việc trộn axít có thể tạo ra các sản phẩm chứa lưu huỳnh không ổn định.


C(CH2OH)4 + 4HNO3 → C(CH2ONO2)4 + 4H2O

Lịch sử[sửa | sửa mã nguồn]

Được điều chế lần đầu năm 1891 bởi TollensWiegand bằng nitrát hóa pentaerythritol, thu được từ acetaldehydeformaldehyde. PETN được trộn vào thuốc tạo khói yếu Thieme năm 1894. Sau khi Chính phủ Đức xác nhận và bảo hộ, PETN được khảo cứu tính nổ mạnh từ 1912, và sản xuất. Một số người cho rằng PETN được quân Đức dùng trong Chiến tranh thế giới lần thứ nhất.[2]. Tuy nhiên, việc sử dụng này nếu có chỉ là thuốc nổ rời. Người Đức cho rằng những ứng dụng công nghiệp đầu tiên năm 1926, tên công nghiệp Pentaerythrit. Lúc này dược dùng làm kíp nổ và trộn với TNT làm thuốc nhồi đạn cỡ nhỏ.

PETN là một thành phần của thuốc nổ dẻo Semtex.

Các tên khác[sửa | sửa mã nguồn]

Vasodiatol, Baritrate, Penthrit, Quintrate, Angicap, Perityl, Antora, Pentanitrolum, Dipentrate, Nitropenta.

Xem thêm[sửa | sửa mã nguồn]

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  • Cooper, Paul W., Explosives Engineering, New York: Wiley-VCH, 1996. ISBN 0-471-18636-8
  • T. Urbanski: Chemistry and technology of explosives. 1961
  • Dr.R. Haas, Dipl.Ing J. Thieme: Synonymverzeichnis der Explosivstoffe
  • J.Gartz: "Kulturgeschichte der Explosivstoffe " E.S.Mittler & Sohn.Hamburg.2006.

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Russek H. I. (1966). “The therapeutic role of coronary vasodilators: glyceryl trinitrate, isosorbide dinitrate, and pentaerythritol tetranitrate.”. American Journal of Medical Science 252 (1): 9–20. PMID 4957459. 
  2. ^ Stettbacher, Alfred (1933). Die Schiess- und Sprengstoffe. Leipzig: Barth. tr. 459.  Đã bỏ qua văn bản “ 2. völlig umgearb. Aufl. ” (trợ giúp)

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]