Họ Cá liệt

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Họ Cá liệt
Thời điểm hóa thạch: Eocen tới nay[1]
Nuchequula nuchalis(Leiognathidae).JPG
Phân loại khoa học
Giới (regnum) Animalia
Ngành (phylum) Chordata
Lớp (class) Actinopterygii
Bộ (ordo) Perciformes
Họ (familia) Leiognathidae
Các chi

Họ Cá liệt hay họ Cá ngãng (danh pháp khoa học: Leiognathidae)[2] là một họ cá trong bộ Cá vược[3]. Theo phân loại trên FishBase thì họ này chứa 7 chi với khoảng 48 loài[4].

Đặc điểm[sửa | sửa mã nguồn]

Phân bố[sửa | sửa mã nguồn]

Cá liệt phân bố ở vùng biển Ấn Độ Dương và phía tây Thái Bình Dương như ở Singapore, Sumatra, Madagascar, Java, New Caledonia, Samoa, Ấn Độ, Thái Lan, Philippin, Trung Quốc và Việt Nam[5]. . Ở vịnh Bắc Bộ Việt Nam, tìm được 17 loài, 5 chi, trong đó 2 loài có giá trị kinh tế[5].

Mô tả[sửa | sửa mã nguồn]

Cá liệt lớn (Leiognathus equulus) là loài lớn nhất trong họ Cá liệt. Cá liệt lớn thân có hình thoi, dẹt bên. Vây bụng dài tới gần vây hậu môn. Cơ thể cá có màu sáng với các đường chấm mờ nhạt, gần nhau trên lưng. Vây lưng không màu, trong suốt, vây hậu môn có mày vàng lợt[5]. Cá liệt to bằng ba bốn ngón tay[6] cá có nhiều xương, xương cứng, ít thịt. Thường dùng làm bột cá.

Các loài[sửa | sửa mã nguồn]

Equulites leuciscus
Equulites stercorarius
Leiognathus splendens

Giá trị[sửa | sửa mã nguồn]

Đây là loại cá có giá trị kinh tế, được đánh bắt để bán và dùng làm nguyên liệu chế biến thành những món ăn ngon[8] như canh chua cá liệt[6], cháo cá liệt.... Tại Quảng Ngãi, theo một ước tính thì vào mùa cá, một đêm ra khơi, mỗi tàu đánh bắt được từ 2-8 tấn cá liệt búa. Với giá thành tại thời điểm năm 2008 là 3.000đồng/kg cá tươi. Cá liệt búa được chế biến thành cá khô tẩm gia vị xuất khẩu[9].

Trong văn hóa[sửa | sửa mã nguồn]

Cá liệt là hình ảnh trong các câu ca dao ở Việt Nam như:

  • Cá liệt mà nấu canh chua. Anh thương em đấy quê mùa vẫn thương[8]
  • Nước mắm ngon dầm con cá liệt. Em có chồng nói thiệt anh hay[10]

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Sepkoski, Jack (2002). “A compendium of fossil marine animal genera”. Bulletins of American Paleontology 364: tr.560. Truy cập ngày 8 tháng 1 năm 2008. 
  2. ^ Đinh Thị Phương Anh; Phan Thị Hoa (2012). “Thành phần loài cá nam bán đảo Sơn Trà, thành phố Đà Nẵng”. Tạp chí Khoa học và Công nghệ, Đại học Đà Nẵng (Đại học Đà Nẵng) 1 (36): 62. Truy cập ngày 12 tháng 12 năm 2012. 
  3. ^ Chủ biên Ranier Froese và Daniel Pauly. (2006). "Leiognathidae" trên FishBase. Phiên bản tháng tháng 2 năm 2006.
  4. ^ Fish Identification: Find Species Family: Leiognathidae Slimys, slipmouths, or ponyfishes
  5. ^ a ă â http://namphatseafood.com/product/25/183/ca-liet.aspx
  6. ^ a ă http://www.thanhnien.com.vn/pages/20121007/canh-ca-liet.aspx
  7. ^ Seishi Kimura, Takahiro Ito, Teguh Peristiwady, Yukio Iwatsuki, Tetsuo Yoshino and Paul V. Dunlap (2005). “The Leiognathus splendens complex (Perciformes: Leiognathidae) with the description of a new species, Leiognathus kupanensis Kimura and Peristiwady”. Ichthyological Research 52 (3): 275–291. doi:10.1007/s10228-005-0283-5. 
  8. ^ Lỗi chú thích: Thẻ <ref> sai; không có nội dung trong thẻ ref có tên ReferenceA
  9. ^ Lỗi chú thích: Thẻ <ref> sai; không có nội dung trong thẻ ref có tên tuoitre.vn
  10. ^ http://vhv.vn/vhv_nuoc-mam-ngon-dam-con-ca-lietem-co-chong-noi-thiet-anh-hay_28140.html

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]