Học viện Tài chính (Việt Nam)

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Học viện Tài chính
Logo Học viện Tài chính
Thành lập 31/07/1963
Loại hình Đại học công lập
Giám đốc Phó Giáo sư, Tiến sĩ
Nguyễn Trọng Cơ
Địa chỉ Số 8 Phan Huy Chú,
Hoàn Kiếm, Hà Nội, Việt Nam
Vị trí Hà Nội, Việt Nam
Điện thoại 043 9331 853
Thư điện tử vanphong@hvtc.edu.vn
Trang mạng www.aof.edu.vn

Học viện Tài chính (tên tiếng Anh: Academy of Finance; Tên viết tắt AOF) là một trường đại học kinh tế chuyên về tài chính- kế toán, trực thuộc Bộ Tài chính.

Trụ sở của Học viện hiện đặt tại Số 8 - Phan Huy Chú, quận Hoàn Kiếm còn cơ sở đào tạo chính của trường tại phường Đức Thắng, Quận Bắc Từ Liêm, thành phố Hà Nội.

Mục lục

Lược sử hình thành[sửa | sửa mã nguồn]

Khái quát lịch sử hình thành[sửa | sửa mã nguồn]

Học viện Tài chính (Academy of Finance - AOF) được thành lập ngày 31/7/1963 theo Quyết định 117/CP của Hội đồng Chính phủ, với tên gọi đầu là Trường cán bộ Tài chính kế toán Trung ương (trực thuộc Bộ Tài chính). Đia điểm của trường đặt tại xã Cổ Nhuế, huyện Từ Liêm, ngoại thành Hà Nội. Hiệu trưởng đầu tiên là Thầy giáo Đỗ Trọng Kim.

Từ khi thành lập trường đến nay, học viện đã trải qua các tên gọi Trường cán bộ Tài chính Kế toán Trung ương (từ năm 1963), đến năm 1964 trường đã đổi tên thành trường Cán bộ Tài chính kế toán Ngân hàng Trung ương. Công cuộc xây dựng và phát triển kinh tế ngày càng được mở rộng trên phạm vi cả nước đòi hỏi đội ngũ cán bộ quản lý kinh tế phải được tăng cường cả về số lượng và chất lượng, ngày 27 tháng 10 năm 1976 Hội đồng Chính phủ đã ra Quyết định 226/CP đổi tên trường từ trường Cán bộ Tài chính Kế toán Ngân hàng Trung ương, thành trường Đại học Tài chính- Kế toán Hà Nội trực thuộc Bộ Tài chính. Qua quá trình hoàn thiện và phát triển trường, đến năm 2001, để thực hiện chiến lược phát triển giáo dục 2001-2010 đề ra, sau khi kết thúc năm học 2000-2002, ngày 17/8/2001, Thủ tướng Chính phủ ra Quyết định số 120/2001/QĐ-TTg về việc thành lập Học viện Tài chính trên cơ sở sát nhập 3 đơn vị là Trường Đại học Tài chính-Kế toán Hà Nội, Viện nghiên cứu Tài chính và Trung tâm bồi dưỡng cán bộ-Bộ Tài chính. Và Học viện Tài chính đã trở thành tên của trường từ đó đến nay. Hiện tại,

Học viện hiện có 720 cán bộ, viên chức trong đó có 390 giảng viên, 54 nghiên cứu viên, 23 giáo sư và phó giáo sư, hơn 80 tiến sỹ, 191 thạc sỹ, 21 nhà giáo ưu tú, từng đào tạo hơn 20.000 sinh viên, học viên.

Giai đoạn 1963 - 1965: Giai đoạn xây dựng CNXH ở miền Bắc[sửa | sửa mã nguồn]

Ngày 31/7/1963 Hội đồng Chính phủ ra Quyết định 117/CP thành lập trường Cán bộ Tài chính Kế toán Trung ương (trực thuộc Bộ Tài chính). Thời kì đầu, thầy giáo Đỗ Trọng Kim, cử nhân Luạt được bổ nhiệm làm Hiệu trưởng, thầy giáo Phạm Thế Phiệt làm hiệu phó. 11/1964 trường được giao thêm nhiệm vụ đòa tạo cán bộ ngân hàng và đổi tên thành trường Cán bộ Tài chính kế toán Ngân hàng Trung ương.

Cơ cấu trường khi thành lập:

  • Ban giám hiệu:
  • Các phòng (có 3 phòng): Phòng Tổ chức cán bộ, Phòng giáo vụ, Phòng Hành chính quản trị.
  • Các khoa (có 2 khoa): Khoa Ngân sách do thầy Thái Văn Hòa làm trưởng khoa có các chuyên ngành Tài chính ngân sách, Thu ngân sách, Cấp phát cho vay thanh toán XDCB và Khoa Tài chính kế toán do thầy Trương Thừa Uyên làm trưởng khoa có các chuyên ngành Kế toán Công nghiệp, Tài vụ công nghiệp, Kế toán kiến thiết cơ bản.
  • Các bộ môn: BM Mác - Lênin, BM Toán cao cấp, BM Ngoại ngữ và BM Tài chính học.

Ngày 5/8/1964 đế quốc Mỹ gây ra cuộc chiến tranh phá hoại trên miền Bắc. Trước tình hình đó, tháng 9/1965 trường di chuyển về Núi Sáng. Lập Thạch tỉnh Vĩnh Phúc để sơ tán. Tính đến năm 1965, nhà trường có 4 khoa; Khoa ngân sách, Khoa Tài vụ, Khoa Kế toán và Khoa Ngân hàng với tổng số CB GV lên tới 198 người, số GV có 60 người.

Giai đoạn 1965 - 1975: Kháng chiến chống Mỹ cứu nước[sửa | sửa mã nguồn]

Đào tạo tại địa điểm sơ tán (1965-1970)[sửa | sửa mã nguồn]

Những năm học chống Mỹ cưu nước, trường Cán bộ Tài chính Kế toán Ngân hàng trung ương mang một địa chỉ mới: M316P - BC40E và mỗi khóa có một ký hiệu riêng, Khóa 1: B, Khóa 2: C, Khóa 3: D,...

Đầu năm 1966 - 1967, Ban giám hiệu lúc này vẫn chỉ có 2 người, song các khoa, phòng, ban có sự mở rộng và phát triển thêm. Khoa Tài vụ Kế toán các ngành kinh tế quốc dân được tách thành 2 khoa: Khoa Tài vụ các ngành do thầy Trương Thừa Uyên làm trưởng khoa và Khoa Kế toán các ngành do thầy Đặng Đình Tốn làm trưởng khoa.

24/1/1967, Khoa Ngân hàng được thành lập do thầy Hoàng Văn Liên làm chủ nhiệm.

Tháng 7/1967, Hội đồng Chính phủ bổ nhiệm thầy Nguyễn Quang Long làm Hiệu phó nâng tổng số là 3 người trong Ban giám hệu.

Tháng 4/1968 Khoa Tại chứ được thành lập và mở lớp đại học tại chức đầu tiên ở Hà Nội.

Đến năm 1968 trường có 6 khoa (2 khoa B và Khoa Tại chức mới thành lập năm 1968), có 7 bộ môn và 6 phòng ban trực thuộc, phòng giáo dục chính trị cũng thành lập năm 1968-1969.

Trường chuyển địa điểm về Phúc Yên (1970-1975)[sửa | sửa mã nguồn]

Đầu năm 1970, trường được lệnh chuyển về thị trấn Phúc Yên, Tỉnh Vĩnh Phú.

Năm học 1970-1971 trường đã tự làm lấy lớp học. Văn phòng của các đơn vị, nhà ở giáo viên và sinh viên đã được xây dựng tại 6 khu vực: khu hiệu bộ ở TX Phúc Yên, khu tập thể cho Khoa Tài Vụ ở Đạm Nội, khoa Kế toán ở Xuân Phương và Khoa Ngân hàng ở Đạo Đức.

Hòa bình lập lại, vào năm học 1972-1973 khoa Tài chính ngân sách, khoa Tài vụ được nhập lại thành Khoa Tài chính, thầy Võ Thành Hiệu được cử làm chủ nhiệm khoa,thành lập bộ môn Tài chính đối ngoại và chuyển bộ môn Phân tích hoạt động kinh tế vào Khoa Kế toán,...

Năm 1973, trường cán bộ Tài chính Kế toán trung ương kỉ niệm 10 năm (1963-1973), trường được Bộ Tài chính trao bằng khen.

Giai đoạn 1975-1980: Cả nước đi lên XHCN[sửa | sửa mã nguồn]

Tháng 9/1976 Bộ Tài chính cho phép trường thành lập cơ sở II tại TP Hồ Chí Minh tại 279 - Nguyễn Tri Phương - Quận 10 - TP Hồ Chí Minh nhằm đào tạo bồi dưỡng cán bộ tài chính kế toán có trình độ đại học cho các tỉnh phía Nam.

Ngày 22/10/1976 Hội đồng Chính phủ ra QĐ 226/CP đổi tên trường từ: Cán bộ Tài chính Kế toán Ngâ hàng Trung ương thành trường Đại học Tài chính - Kế toán (thuộc Bộ Tài chính). Năm học 1976-1977 trường có 820 sinh viên (CS Phúc Yên: 520 và CS TP HCM: 300)

Cuối năm 1977, nhà trường được UBND tỉnh Vĩnh Phú cấp 7,5ha đất tại Phúc yên để xây dựng trường.

Tại Đại hội đảng bộ lần thứ 6 (11/1980) vấn đề ổn định cơ cấu được thực hiện, nhà trường tổ chức thành 5 khoa, 8 bộ môn và 15 phòng ban trực thuộc ban giám hiệu.

11/1980 thầy Võ Đình Hảo được bổ nhiệm quyền Hiệu trưởng thay cho thầy Nguyễn Quang Long. Tháng 9/1982 thầy Võ Đình Hảo được điều chuyển về Bộ Tài chính công tác, thầy Trương Mộc Lâm giữ chức quyền Hiệu trưởng. năm học 1982-1983 nhà trường đã đề bạt 2 Hiệu phó, 8 Phó chủ nhiệm khoa và bộ môn, 4 Trưởng phòng và 10 Phó trưởng phòng. Năm 1984 trường thành lập thêm khoa Quân sự và năm 1986 thành lập Khoa Mác - Lênin.

Ngày 20/6/1983 nhân dịp kỷ niệm 20 năm thành lập trường Hội đồng Nhà nước - nước CHXHCN Việt Nam đã ký quyết định số 335/KTHĐBT tặng thưởng Huân chương Lao động Hạng 3 cho trường Đại học Tài chính - Kế toán.

Hoạt động Đoàn - Hội trong thời kì này cũng rất đa dạng và phong phú. 4/1986 Đoàn trường cũng Công đoàn tổ chức dạ hội chào mừng 100 năm ngày Quốc tế Lao động. Cũng trong giai đoạn này, hoạt động hợp tác quốc tế cũng được mở rộng và tăng cường.

Giai đoạn 1986-2002: Hòa nhập cùng sự nghiệp đổi mới của đất nước, vững bước tiến vào thế kỉ XXI[sửa | sửa mã nguồn]

19/1/1987 Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng ra quyết định số 15/CT giao nhiệm vụ đào tạo sau đại học cho trường và trường đã thành lập khoa Sau Đại học, GS. TS NGND Vũ Văn Hóa được bổ nhiệm làm trưởng khoa.

Năm học 1986-1987, GS TSKH Trương Mộc Lâm được cử đi công tác. TS. Mai Thiệu đảm nhận trọng trách quyền Hiệu trưởng. các khoa, bộ môn được sắp xếp lại.

Các hoạt động hợp tác quốc tế tiếp tục mở rộng với trường Đại học kinh tế quốc dân Qui Bư Sép (thuộc Cộng hòa Bê La Rút - Liên Xô).

Năm học 1990-1992, GS. TS. NGND Hồ Xuân Phương giữ chức Hiệu trưởng (12/1990). Cũng trong năm này trường tiếp nhận cơ sở mới ở Đông Ngạc (huyện Từ Liêm - TP Hà Nội) Nhân dịp kỉ niệm 30 năm thành lập trường (1963-1993) nhà trường khởi công xây dựng khu nhà liên hợp 5 tầng tại Đông Ngạc (dự kiến hoàn thành năm 1963).

Ngày 16/12/1996, trường nhận quyết định của Chính phủ cho chuyển về Hà Nội và lễ khai giảng năm học 1996-1997 được tiến hành tại địa điểm mới "Đông Ngạc - Từ Liêm - Hà Nội.

Đến năm học 1998-1999 công tác tổ chức có sự thay đổi.

Ban giám hiệu nhiệm kỳ 1999-2002

- GS. TS. NGND Vũ Văn Hóa - Hiệu trưởng

- PGS. TS. NGƯT Ngô Thế Chi - Hiệu phó

- PGS. TS. NGƯT Vương Đình Huệ - Hiệu phó

- TS. NGUT Phạm Ngọc Ánh - Hiệu phó

Giai đoạn 2012-2013: Thành lập Học viện Tài chính[sửa | sửa mã nguồn]

Ngày 17/8/2001, Thủ tướng Chính phủ ra Quyết định số 120/2001/QĐ-TTg về việc thành lập Học viện Tài chính trên cơ sở sáp nhập 3 đơn vị là trường Đại học Tài chính - Kế toán Hà Nội, Viện nghiên cứu tài chính (thành lập năm 1961) và Trung tâm bồi dưỡng cán bộ - Bộ Tài chính (thành lập năm 1965) và thành lập hai phân viện: Phân viện Thành phố Hồ Chí Minh và phân viện Đà Nẵng.

Cơ cấu tổ chức Học viện Tài chính khi thành lập năm 2002

Ban Giám đốc:

- GS. TS. NGND Vũ Văn Hóa, Giám đốc Học viện

- GS. TS NGND Hồ Xuân Phương, Phó Giám đốc Học viện

- GS. TS. NGƯT Phạm Ngọc Ánh, Phó Giám đốc Học viện

- TS. NGƯT Phạm Ngọc Ánh, Phó Giám đốc Học viện

- TS. NGƯT Nguyễn Văn Tạo, Phó Giám đốc Học viện

Giúp việc cho Ban giám đốc có các Hội đồng tư vấn

Khối quản lí có 9 Ban, năm 2006 thành lập thêm 1 ban

Khối đào tạo có 8 khoa, đến năm 2008 có 13 khoa.

Khối nghiên cứu: có Viện Khoa học Tài chính, năm 2003 thêm Viện Nghiên cứu Khoa học thị trường và giá cả.

khối Dịch vụ và Thông tin

Phân viện TP HCM và Đà Nẵng chỉ tồn tại trong 4 năm. Đến năm 2005 tách khỏi học viện và sáp nhập vào trường CĐ Tài chính - Kế toán Quảng Ngãi và CĐ Tài chính - Hải Quan TP HCM.

Cơ sở đào tạo:

- Cơ sở số 1: Số 7, Lý Thường Kiệt, Hà Nội

- Cơ sở 2: Xã Đông Ngạc, Từ Liêm, Hà Nội

- Cơ sở 3: 53E Phan Phù Tiên, Hà Nội

- Phân viện Đà Nẵng: 73 Quang Trung, TP Đà Nẵng

- Phân viện TP HCM: 138 Nguyễn Thị Minh Khai, TP HCM

Tháng 7/2005, GS. TS Ngô Thế Chi được bổ nhiệm làm Giám đốc thay GS. TS Vũ Văn Hóa nghỉ hưu theo chế độ.

Cho đến năm học 2012-2013, tổ chức bộ máy quản lí gồm 4 khối: khối đào tạo, khối quản lí, khối nghiên cứu và khối dịch vụ. Mô hình chức năng gồm 14 khoa, 12 ban chức năng và tương đương và 5 đơn vị sự nghiệp.

Công tác chuyên môn được tăng về quy mô, chất lượng đào tạo được nâng lên, phương pháp giảng dạy được đổi mới. Mở rộng 8 chuyên ngành mới, 10 bộ môn mới, đưa vào giảng dạy 40 môn học mới, mở thêm các loại hình đào tạo mới.

Cơ sở vật chất cũng được tăng cường và nâng cao.

Ban Giám đốc Học viện[sửa | sửa mã nguồn]

Các thầy Hiệu trưởng - Giám đốc[sửa | sửa mã nguồn]

  • Thầy giáo Đỗ Trọng Kim (1963-1972)
  • Thầy giáo Nguyễn Quang Long (1973-1980)
  • GS. TS. Võ Đình Hảo (Quyền hiệu trưởng) (1981-1982)
  • GS. TSKH Trương Mộc Lâm (1983-1986)
  • TS. Mai Thiệu (Quyền hiệu trưởng) (1987-1988)
  • GS. TS. Hồ Xuân Phương (1991-1998)
  • GS. TS Vũ Văn Hóa (1999-6/2005)
  • GS. TS Ngô Thế Chi (7/2005-11/2014)
  • PGS. TS Nguyễn Trọng Cơ (12/2014 - Nay)

Chức năng, nhiệm vụ[sửa | sửa mã nguồn]

  • Đào tạo cán bộ trình độ đại học, sau đại học, nghiên cứu khoa học và bồi dưỡng công nghệ quản lý về lĩnh vực tài chính, kế toán, quản trị kinh doanh, tiếng Anh Tài chính và Tin học Tài chính kế toán với các loại hình đào tạo: Đại học chính quy, Đại học Tại chức, Đại học bằng 2, Hoàn chỉnh kiến thức đại học và Sau đại học
  • Nghiên cứu khoa học và công nghệ quản lý về tài chính - kế toán.
  • Bồi dưỡng theo tiêu chuẩn chức danh và chuyên môn, nghiệp vụ, công nghệ quản lý về tài chính - kế toán.

Sứ mạng[sửa | sửa mã nguồn]

Trên cơ sở chức năng nhiệm vụ được giao, ngày 03 tháng 07 năm 2007, Hội đồng Trường đã có quyết nghị xác định sứ mạng của Học viện là: "Cung cấp các sản phẩm đào tạo và nghiên cứu khoa học tài chính - kế toán chất lượng cao cho xã hội"

Cơ cấu tổ chức[sửa | sửa mã nguồn]

Các Khoa[sửa | sửa mã nguồn]

Khoa Kế toán (Thành lập năm 1963)[sửa | sửa mã nguồn]

I) Tổng quan:

Khoa Kế toán là một trong các đơn vị thuộc Học viện Tài chính; đào tạo và quản lí 2 chuyên ngành: Kế toán Doanh nghiệp mã số 21 và Kiểm toán mã số 22.

- Bài hát Truyền thống: Hát về Khoa Kế toán[1]

- Văn phòng Khoa: Phòng 111, Nhà Hiệu Bộ, Học viện Tài chính, P. Đức Thắng, Quận Bắc Từ Liêm, TP. Hà Nội

- Số điện thoại: 043 38385507 (Máy lẻ: 109)

- Website: http://www.hvtc.edu.vn/khoaketoan

II) Lịch sử hình thành:

Khái quát

Sự ra đời và phát triển của Khoa Kế toán gắn liền với sự ra đời và phát triển của Trường Cán bộ Tài chính - Kế toán - Ngân hàng Trung ương, Trường Đại học Tài chính - Kế toán Hà nội nay là Học viện Tài chính. 50 năm xây dựng và phát  triển.

Giai đoạn 1963-1965

Ngày 31/7/1963 Hội đồng Chính phủ ra Quyết định thành lập trường Cán bộ Tài chính kế toán  trực thuộc Bộ Tài chính, đóng tại xã Cổ Nhuế, Từ Liêm, Hà Nội. Bằng quyết định này,Trường Cán bộ Tài chính Kế toán được thành lập với 02 khoa: Khoa Ngân sách và Khoa Tài vụ – Kế toán các ngành kinh tế quốc dân. Khoa Tài vụ – Kế toán các ngành kinh tế quốc dân do Thầy Trương Thừa Uyên làm Trưởng khoa với 3 chuyên ngành: Kế toán Công nghiệp, Tài vụ Công nghiệp và Kế toán Kiến thiết cơ bản.

 Tháng 11/1964, Trường Cán bộ Tài chính kế toán được bổ sung ngành đào tạo và đổi tên thành Trường Cán bộ Tài chính Kế toán Ngân hàng Trung ương, cùng với sự phát triển lớn mạnh của Trường và do yêu cầu thực tế đòi hỏi, Khoa Tài vụ -  Kế toán các ngành kinh tế quốc dân được tách thành 02 Khoa; Khoa Tài vụ các ngành và Khoa Kế toán các ngành kinh tế quốc dân. Khoa Kế toán các ngành kinh tế quốc dân được giao nhiệm vụ đào tạo hệ dài hạn chính qui và hệ chuyên tu với 04 chuyên ngành.

Địa điểm đầu tiên của khoa Kế toán thuộc trường cán bộ Tài chính Kế toán Ngân hàng Trung ương đặt tại xã Cổ Nhuế, huyện Từ Liêm, Hà Nội; Thầy giáo Đặng Đình Tốn được bổ nhiệm với trọng trách Trưởng khoa, thầy giáo Trần Hữu Trinh được bổ nhiệm phó trưởng khoa; với đội ngũ Cán bộ giáo viên  ban đầu chỉ gồm 07 thầy, cô.

Năm 1965 chiến tranh leo thang, Khoa Kế toán cùng toàn trường sơ tán về xã Lãng Công, Lập Thạch, Vĩnh Phú.

Giai đoạn 1965-1975

Trong những năm chống Mỹ cùng với sự phát triển của nền kinh tế, yêu cầu về đội ngũ Cán  bộ Tài chính kế toán ngày càng cao, số sinh viên của khoa ngày càng tăng cao. Nhà trường phân tán theo từng khu vực, dàn mỏng trên một tuyến dài gần 20 km qua các địa điểm: Đồng Quế, Yên Sơn, Đoàn Kết, Đạo Nội, Trường Xuân, Thành Công, Đức Thịnh và Yên Thiết, trong đó khu Yên thiết (thuộc xã Quang yên) là trung tâm của Khoa Kế toán. 

Cũng trong giai đoạn này, Khoa Kế toán đã hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ giảng dạy cho các khóa chính quy dài hạn từ khóa I đến khóa V, các khóa chuyên tu từ khóa I đến khóa III tại nơi sơ tán, số cử nhân kế toán đã tốt nghiệp trong giai đoạn 1963-1970 gần 1.000 Người. Số Cán bộ kế toán này đã đáp ứng kịp thời nhu cầu về Cán bộ kế toán có trình độ đại học cho các ngành kinh tế trong giai đoạn hiện tại, nhiều Cán bộ đã phát huy tốt kiến thức được đào tạo và giữ những trọng trách lớn trong các cơ quan Đảng và Nhà nước.

Năm 1970 cùng với toàn trường, Khoa Kế toán đã thực hiện cuộc đại di chuyển từ nơi sơ tán xã Quang Yên – Lập Thạch về khu vực thị xã Phúc Yên tiếp tục học tập và giảng dạy.

Giai đoạn 1975-1985

Công cuộc xây dựng và phát triển kinh tế ngày càng được mở rộng trên phạm vi cả nước đòi hỏi đội ngũ Cán bộ quản lý kinh tế phải được tăng cường cả số lượng và chất lượng, ngày 27 tháng 10 năm 1976 Hội đồng Chính phủ đã ra Quyết định đổi tên trường từ trường: Cán bộ Tài chính Kế toán Ngân hàng Trung ương, thành trường Đại học Tài chính - Kế toán Hà Nội. Khoa Kế toán được xác định là một trung tâm đào tạo và nghiên cứu về khoa học tài chính kế toán của đất nước, có nhiệm vụ đào tạo và cung cấp những Cán bộ có trình độ đại học chuyên sâu về nghiệp vụ tài chính kế toán cho toàn ngành và toàn bộ nền kinh tế.

Đáp ứng yêu cầu của nhiệm vụ trong giai đoạn mới Khoa Kế toán đã từng bước xây dựng đổi mới cơ cấu tổ chức Cán bộ, tăng cường đội ngũ giáo viên, xây dựng, đổi mới chương trình môn học cho phù hợp tình hình hiện tại. Cùng với việc mở rộng quy mô đào tạo, đội ngũ Cán bộ giáo viên Khoa Kế toán cũng từng bước được bổ sung tăng thêm cả về số lượng và chất lượng. Ngoài số sinh viên chính quy dài hạn tốt nghiệp loại khá, giỏi được giữ lại, đội ngũ giáo viên của Khoa còn được bổ sung từ những Cán bộ được đào tạo từ Liên xô và các nước Đông âu trở về.

Giai đoạn 1986-2002

Từ năm 1988 trường được giao nhiệm vụ đào tạo sau đại học, số lượng giáo viên có học vị Tiến sĩ, Thạc sĩ của Khoa Kế toán được đào tạo tại trường cũng tăng lên đáng kể.

Năm1990 Khoa Kế toán cùng toàn trường được chuyển về cơ sở mới tại Xã Đông Ngạc – Huyện Từ Liêm – Hà Nội, mở ra thời kỳ mới với nhiều cơ hội thuận lợi để Khoa cũng như nhà trường nhanh chóng phát triển.

Giai đoạn 2002-2013

Ngày 17/8/2001  Thủ tướng Chính phủ ra Quyết định số 120/QĐ/TTG thành lập Học viện Tài chính. Với mô hình Học viện, Khoa Kế toán tiếp tục phát  triển và khẳng định vị thế hàng đầu của mình trên thị trường đào tạo chuyên ngành Kế toán, Kiểm toán, đóng góp một phần quan trọng vào kết quả đào tạo và nghiên cứu khoa học của toàn Học viện.

Quy mô đào tạo của Khoa ngày càng mở rộng, ngay từ ngày đầu thành lập Khoa Kế toán luôn là một trong những Khoa có quy mô đào tạo lớn nhất của nhà trường. Năm 2013 Học viện tuyển sinh khóa 51 với tổng số 3.357 sinh viên cho 19 chuyên ngành, trong đó chuyên ngành kế toán doanh nghiệp và kiểm toán là 988 sinh viên chiếm 33%.

III) Cơ cấu Tổ chức

Ban chủ nhiệm Khoa

Trưởng khoa: PGS.TS. NGƯT Nguyễn Vũ Việt 

- Phó trưởng khoa: PGS.TS. Mai Ngọc Anh

- Phó trưởng khoa: PGS.TS. Thịnh Văn Vinh 

- Phó trưởng khoa: TS: Lưu Đức Tuyên

Phó trưởng khoa: PGS.TS. Ngô Thị Thu Hồng

Các bộ môn

1.  Bộ môn Nguyên lý Kế toán

  Giảng dạy môn học: Nguyên lý Kế toán

  '' - Trưởng Khoa  (phụ trách BM): PGS.TS. Nguyễn Vũ Việt 

   - Phó trưởng bộ môn:  PGS.TS. Mai Ngọc Anh

   - Phó trưởng bộ môn:  Ths. Nguyễn Thị Hồng Vân

2.  Bộ môn Kế toán doanh nghiệp. 

Giảng dạy các môn học:

- Kế toán tài chính

- Kế toán quản trị

- Kế toán máy

- Chuẩn mực kế toán quốc tế

- Kế toán công ty chứng khoán

- Tổ chức công tác kế toán trong doanh nghiệp.

- Kế toán DNTMDV.

- Đại cương kế toán tập đoàn

- Kế toán DNXL 

Trưởng bộ môn: TS. Lưu Đức Tuyên  

Các phó trưởng bộ môn: 

- PGS.TS. Ngô Thu Hồng.

-Ths. Đặng Thế Hưng

- TS. Thái Bá Công

3.  Bộ môn Kiểm toán. 

Giảng dạy các môn học:

- Lý thuyết Kiểm toán

- Kiểm toán Báo cáo Tài chính

Trưởng bộ môn: PGS.TS. Thịnh Văn Vinh  

Phó trưởng bộ môn: TS. Phạm Tiến Hưng

phó trưởng bộ môn: TS. Vũ Thuỳ Linh

4.   Văn phòng khoa (03 chuyên viên)

Các đơn vị khác

Công đoàn Khoa

Liên chi Đoàn Khoa Kế toán

CLB Kế toán và Kiểm toán viên

IV) Lãnh đạo Khoa các thời kì

Trưởng Khoa

Họ và Tên Nhiệm kì
1. Thầy giáo Trương Thừa Uyên 1963-1965
2. Thầy giáo Đặng Đình Tốn 1965-1972
3. Thầy giáo Đỗ Bình Nguyên 1972-1975
4. GS. TS Võ Đình Hảo 1975-1981
5. TS Lê Gia Lục 1981-1985
6. TS. Nguyễn Thế Khải 1986-1990
7. NGƯT Vũ Huy Cầm 1990-1994
8. PGS. TS. NGƯT Vương Đình Huệ 1994-1999
9. TS. NGƯT Đoàn Xuân Tiên 1999-2001
10. PGS. TS. Nguyễn Đình Đỗ 2001-2004
11. TS Nguyễn Viết Lợi 2004-2005
12. PGS. TS. NGƯT Nguyễn Vũ Việt 2005-Nay

Phó Trưởng Khoa

Học và Tên Nhiệm
1.Thầy giáo Trần Hữu Trinh 1965-1972
2. Thầy giáo Đặng Văn Minh 1965-1975
3. Thầy giáo Lê Thanh Quảng 1973-1974
4. Thầy giáo Nguyễn Văn Sức 1975-1979
5. Thầy giáo Phan Thanh Đức 1975-1981
6. Thầy giáo Nghiêm Xuân Ngọa 1976-1980
7. Thầy giáo Huỳnh Hồng 1976-1980
8. TS. Nguyễn Hữu Ba 1983-1986
9. TS Vũ Bá Thanh 1987-1999
10. ThS. Dương Nhạc 1983-1987
11. TS Ngô Thế Chi 1995
12. TS. NGƯT Nguyễn Viết Lợi 1999-2004
13. ThS. Vũ Viết Thựu 2002-2005
14. TS. Nguyễn Vũ Việt 2004-2005
15. TS. Trương Thị Thủy 2005-2008
16. PGS. TS Giang Thị Xuyến 2004-2014
17. TS. Lưu Đức Tuyên 2006-Nay
18. PGS. TS Ngô Thị Thu Hồng 2013-Nay
19. PGS. TS Mai Ngọc Anh 2014 -Nay

V) Số lượng Cán bộ, Giảng viên

Số liệu đến năm 2012

Tổng số trên 70 Người,

Giáo viên Kiêm chức: 10

Trong đó có 02 giáo sư, 05 phó giáo sư, 20 Tiến sĩ, trên 30 Thạc sĩ,...

VII) Hoạt động Khoa

Các hoạt động thường xuyên:

  • Gặp gỡ Tân sinh viên Khóa mới Khoa Kế toán
  • Tổng kết và Sơ kết năm học
  • Trao Bằng tốt nghiệp cho sinh viên cuối khóa
  • Phối hợp tổ chức Ngày hội Nghề nghiệp Kế toán Kiểm toán Lần I, II (Năm 2008 và 2013)[4]
  • Kỉ niệm Ngày Nhà giáo Việt Nam
  • Hội thảo NCKH Giảng viên, Sinh viên
  • Các hoạt động Từ thiện, Du lịch[5]

Hoạt động Liên chi đoàn

  • Festival Kế toán: Bạn là Kế toán trưởng tương lai
  • Cuộc thi Mô hình Doanh nghiệp Kế toán ảo
  • Cuộc thi tìm kiếm Tài năng FoA's Got Talent
  • Cuộc thi Nhân tố bí ẩn Khoa Kế toán X-Factor

Hoạt động CLB Kế toán Kiểm toán

  • Gala Chào Tân sinh viên - hi! New Student
  • Ngày hội thực tập - Internship Day
  • Hội Thảo Phỏng vấn Thử, Kĩ năng Viết CV
  • Cuộc thi Kiểm toán viên Tài năng
  • Office Tour - Tham quan Doanh nghiệp

VIII) Thành tích

Thành tích Năm
Huân chương Lao động hạng Nhì - Khoa Kế toán 2011
Huân chương Lao động hạng Ba - Bộ môn KTDN Sản xuất 2001
Huân chương Lao động Hạng Ba - Khoa Kế toán 2002
Huân chương Lao Động hạng Ba - Bộ môn Kiểm toán 2007
Bằng khen thủ tướng Chính phủ - Khoa Kế toán 2000
Bằng khen thủ tướng Chính phủ - Bộ môn Kế toán TMDV 2000
Bằng khen thủ tướng Chính phủ - Bộ môn KTDN 2000
Bằng khen thủ tướng Chính phủ - Bộ môn Kiểm toán 2006
Bằng khen thủ tướng Chính phủ - Bộ môn KTDN Năm học 2007-2008
Bằng khen thủ tướng Chính phủ - Bộ môn Kiểm toán Năm học 2010-2011

IX) Liên kết, Hợp tác

Khoa Kế toán chú trọng liên kết hợp tác với các Doanh nghiệp, Hội nghề nghiệp trong ngành như: Hiệp hội Kế toán Công chứng anh quốc (ACCA), Hiếp hội Kế toán công chứng Australia (CPA Australia), Viện Kế toán công chứng Anh và xứ Wales (ICAEW), Hội Kiểm toán viên hành nghề Việt Nam (VACPA), Hội Kế toán Kiểm toán Việt Nam (VAA), Các Công ty Kiểm toán Big 4 và trong nước như: AASC, VACO, Grant Thornton, UHY, Các trung tâm đào tạo: FTMS, Vietsourcing, Smart Traing,...và đông đảo Khối doanh nghiệp thuộc mọi lĩnh vực....

Khoa Tài chính doanh nghiệp (Thành lập năm 1963)[sửa | sửa mã nguồn]

I. QUÁ TRÌNH HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN

Khoa Tài chính doanh nghiệp (TCDN) được thành  lập năm 1963 với tên gọi ban đầu là Khoa Tài vụ - Kế toán. Các chuyên ngành  thuộc Khoa quản lý và đào tạo lúc đó bao gồm: Tài vụ công nghiệp; Tài vụ XDCB; Tài vụ nông nghiệp; Tài vụ thương nghiệp; Kế toán công nghiệp; Kế toán XDCB; Kế toán nông nghiệp; Kế toán thương nghiệp.

Đầu năm học 1966 - 1967, Khoa tài vụ - Kế toán các ngành kinh tế quốc dân được tách thành hai khoa: Khoa Tài vụ các ngành (gồm các bộ môn Tài vụ công nghiệp, Tài vụ nông nghiệp, Tài vụ kiến thiết cơ bản (XDCB), Tài vụ thương nghiệp), Khoa Kế toán các ngành (gồm các bộ môn: Kế toán công nghiệp, Kế toán nông nghiệp, Kế toán thương nghiệp, Kế toán XDCB).

Từ học kỳ hai năm học 1972 -  1973, Khoa Tài vụ các ngành hợp nhất với Khoa Tài chính ngân sách thành Khoa Tài chính.

Từ cuối năm học 1979 - 1980 Khoa Tài chính lại được tách ra thành lập hai Khoa là Khoa Tài chính các ngành kinh tế quốc dân - gọi tắt là Khoa Tài chính ngành (gồm bộ môn Tài chính công nghiệp, Tài chính nông nghiệp, Tài chính XDCB, Tài chính thương nghiệp) và  Khoa Tài chính ngân sách.

Tháng 9 năm 1990, Khoa tài chính ngành tiếp nhận thêm hai bộ môn mới là Bộ môn Tiền tệ - tín dụng và Bộ môn cấp phát và cho vay đầu tư XDCB, chuyên ngành Kho bạc cũng được hình thành.

Từ tháng 8 năm 1992 Khoa Tài chính ngành tiếp nhận Bộ môn Bảo hiểm từ Khoa Tài chính Nhà nước. Các bộ môn trong Khoa được sắp xếp thành: Bộ môn TCDN, Bộ môn Tiền tệ - Tín dụng và Bộ môn Bảo hiểm.

Từ tháng 11 năm 1994, theo quyết định số 1152/TC/QĐ/TCCB của Bộ trưởng Bộ Tài chính, Khoa Tài chính ngành được mang tên mới: Khoa Tài chính doanh nghiệp.

Tháng 2 năm 2000, Bộ môn Thị trường chứng khoán được tách ra từ Bộ môn TCDN.

Tháng 01/2002 cùng với sự ra đời của Học viện Tài chính, các Bộ môn Bảo hiểm, Thị trường chứng khoán và Tiền tệ - Tín dụng tách ra khỏi Khoa TCDN hình thành nên Khoa mới: Khoa Ngân hàng -Bảo hiểm; Khoa TCDN được thành lập trên cơ sở Bộ môn TCDN và 2 Bộ môn: Kinh tế các ngành sản xuất và Quản lý kinh tế.

Từ đầu năm học 2003 -2004, Bộ môn Kinh tế các ngành sản xuất chuyển về Khoa Quản trị kinh doanh, Khoa TCDN tiếp nhận Bộ môn Phân tích TCDN từ khoa Kế toán chuyển sang.

Năm học 2004-2005, Bộ môn Quản lý kinh tế chuyển sang khoa Quản trị kinh doanh, Khoa TCDN tiếp nhận Bộ môn Định giá tài sản.

Hiện nay Khoa TCDN gồm có 3 bộ môn: TCDN, Phân tích TCDN và Định giá tài sản. Các bộ môn trong khoa hiện đang đảm nhiệm giảng dạy 08 môn học. Tính tại thời điểm tháng 11/2014, khoa TCDN đang trực tiếp quản lý gần 3.200 sinh viên chính quy các chuyên ngành TCDN, Định giá tài sản và 72 NCS thuộc 3 chuyên ngành TCDN, Định giá tài sản và Phân tích TCDN.

Hơn 50 năm qua, Khoa TCDN đã không ngừng trưởng thành và lớn mạnh. Từ chỗ ban đầu chỉ có không đến 10 người, hiện nay tổng số cán bộ giáo viên trong Khoa đã lên tới 47 người; trong đó có 45 giáo viên, với 03 Phó Giáo sư, 17 Tiến sĩ, 20 Thạc sỹ; Số giáo viên có trình độ trên Đại học của khoa chiếm trên 82%. Khoa TCDN hiện có 14 giáo viên đang làm NCS; trong đó, có 3 NCS tại nước ngoài. Đặc biệt, hiện nay khoa có 10 giáo viên có thể đảm nhiệm giảng dạy bằng tiếng Anh. Hàng năm, số sinh viên tốt nghiệp hệ đại học chính quy các chuyên ngành do khoa quản lý vào khoảng từ 600-800 người. Khoa đã tham gia đào tạo hàng vạn Thạc sĩ các chuyên ngành Tài chính – ngân hàng và Kế toán và gần 50 Tiến sĩ chuyên ngành Tài chính –Ngân hàng cho đất nước.

Do những đóng góp to lớn vào sự phát triển của ngành Tài chính và sự nghiệp giáo dục đào tạo, khoa TCDN đã vinh dự được Đảng và Nhà nước trao tặng nhiều phần thưởng cao quý:

- Tập thể khoa được tặng thưởng Huân chương lao động hạng 3 năm 2004 và thưởng Huân chương lao động hạng 2 năm 2010.

- Hai Bộ môn: TCDN, Phân tích TCDN và 3 giáo viên của Khoa đã vinh dự được Nhà nước trao tặng Huân chương Lao động hạng 3. Ngoài ra, nhiều CBGV của khoa được tặng Bằng khen của Thủ tướng Chính phủ; Bằng khen của Bộ trưởng Bộ Tài chính, Bộ Giáo dục và Đào tạo,.v.v.

- 01 giáo viên của khoa được trao tặng danh hiệu Nhà giáo nhân dân; 5 giáo viên khác được trao tặng danh hiệu Nhà giáo ưu tú; 1 giáo viên của khoa được tặng danh hiệu Chiến sĩ thi đua toàn quốc.

II. CHỨC NĂNG NHIỆM VỤ CỦA KHOA

1. Về đào tạo, bồi dưỡng

*Chuyên ngành đào tạo: Khoa TCDN hiện đang đào tạo 2 chuyên ngành:

+ Tài chính doanh nghiệp

+ Định giá tài sản và kinh doanh bất động sản

*Cấp đào tạo: Cử nhân, Thạc sỹ, Tiến sỹ

* Khoa tham gia đào tạo bồi dưỡng kiến thức về TCDN, về Định giá tài sản, Kinh doanh bất động sản cho các doanh nghiệp, các đơn vị bên ngoài Học viện.

2. Về nghiên cứu khoa học

* Chủ trì và tham gia hàng chục đề tài cấp Nhà nước, cấp Bộ, Ngành.

* Chủ trì và tham gia hàng trăm đề tài cấp Học viện và cấp khoa.

* Hàng chục đề tài của sinh viên NCKH đạt giải cấp Bộ giáo dục và đào tạo.

III. CƠ CẤU TỔ CHỨC CỦA KHOA

- Tổng số cán bộ, giáo viên: Khoa hiện có 47 cán bộ, giáo viên, trong đó:

     + Giáo viên: 45 người

     + Cán bộ VPK: 2 người

- Số Bộ môn trong Khoa: Khoa hiện có 3 bộ môn:

     + Bộ môn Tài chính doanh nghiệp

     + Bộ môn Định giá tài sản và Kinh doanh bất động sản.

     + Bộ môn Phân tích tài chính doanh nghiệp

- Lãnh đạo Khoa:

+ Trưởng khoa:              + TS.Bùi Văn Vần

+ Phó trưởng khoa:        + PGS,TS. Nghiêm Thị Thà

                                                + TS.Phạm Văn Bình

                                                + TS.Vũ Văn Ninh

                                                + TS.Đoàn Hương Quỳnh

- Hội đồng khoa học Khoa:

+ TS. Bùi Văn Vần - Chủ tịch

+ TS. Vũ Văn Ninh – Thư ký

+ TS. Nguyễn Minh Hoàng

+ TS. Nghiêm Thị Thà

+ TS. Phạm Văn Bình

IV. GIỚI THIỆU VỀ CÁC BỘ MÔN

1. Bộ môn Tài chính Doanh nghiệp

- Tổng số giáo viên của bộ môn: 27 giáo viên (gồm 26 giáo viên cơ hữu và 1 giáo viên kiêm chức). Theo học hàm, học vị, Bộ môn gồm: 2 PGS, 9 TS, 14 thạc sĩ, có 7 giáo viên đang làm NCS và 3 giáo viên đang học cao học.

- Lãnh đạo Bộ môn:

+ Tr­ưởng Bộ môn: -TS. Vũ Văn Ninh 

+ Các Phó tr­ưởng Bộ môn:  - TS. Đoàn Hương Quỳnh

                                          - TS. Nguyễn Thị Hà

                                          - TS. Phạm Thị Vân Anh

- Chức năng, nhiệm vụ của bộ môn:

+ Giảng dạy môn học TCDN cho các hệ đào tạo của học viện, các lớp bồi dưỡng giám đốc tài chính, kế toán trưởng, kiểm soát viên, phân tích đầu tư chứng khoán, định giá tài sản, định giá doanh nghiệp, kiểm toán viên...

+ Giáo trình giảng dạy: Giáo trình TCDN và Hệ thống câu hỏi và Bài tập TCDN.

  • Địa chỉ liên hệ: Bộ môn TCDN, phòng 409+411, tầng 4 nhà hiệu bộ- Học viện Tài chính – số 1 Lê Văn Hiến, Đức Thắng, Bắc Từ Liêm - HN.
  • Điện thoại: 0438.386 867 (máy lẻ 102)

2. Bộ môn Phân tích TCDN:

- Tổng số giáo viên của bộ môn: 14 (gồm 11 giáo viên cơ hữu và 3 giáo viên kiêm chức, kiêm môn). Theo học hàm, học vị, Bộ môn gồm: 1 PGS,  5 TS,  4 thạc sĩ, 2 giáo viên đang làm NCS, 2 giảng viên đang học cao học.

- Lãnh đạo Bộ môn:

    + Trưởng bộ môn: - PGS,TS. Nghiêm Thị Thà

    + Phó trưởng BM: - TS. Nguyễn Thị Thanh

                                - TS. Phạm Thị Quyên

- Chức năng, nhiệm vụ của bộ môn:

    + Giảng dạy 2 môn học: Phân tích TCDN và Phân tích Kinh tế cho các hệ đào tạo của học viện, các lớp bồi dưỡng kế toán trưởng, giám đốc tài chính, cán bộ tín dụng- ngân hàng.

    + Giáo trình giảng dạy: Phân tích TCDN và Phân tích TCDN dùng cho lớp không chuyên ngành

    + Sách chuyên khảo: Phân tích TCDN- Lý thuyết và thực hành, Đọc và phân tích báo cáo tài chính doanh nghiệp, Hệ thống bài tập thực hành Phân tích TCDN.

  • Địa chỉ liên hệ: Bộ môn Phân tích TCDN- Khoa TCDN- Học viện Tài chính. Điện thoại: 0438.386 867 (máy lẻ 102)

3. Bộ môn Định giá tài sản:

- Tổng số giáo viên đang giảng dạy tại bộ môn: 8 giáo viên; Trong đó, có 3 TS,  5 thạc sĩ. Hiện tại, bộ môn có 4 giáo viên đang làm NCS.

- Lãnh đạo Bộ môn:

    + Trưởng Bộ môn: TS. Nguyễn Minh Hoàng

    + Phó trưởng BM: - TS. Phạm Văn Bình

                                 - TS. Nguyễn Hồ Phi Hà

- Chức năng, nhiệm vụ của bộ môn:

         + Giảng dạy các môn học:

                                  1-Định giá tài sản

                                  2-Thị trường Bất động sản

                                  3-Kinh doanh Bất động sản

                                  4-Quản lý và quy hoạch đô thị

                                  5-Định giá doanh nghiệp

    + Tham gia giảng dạy các lớp bồi dưỡng kế toán trưởng, giám đốc tài chính, cán bộ tín dụng của ngân hàng.

  • Địa chỉ liên hệ: Bộ môn Định giá tài sản- Khoa Tài chính DN- Học viện Tài chính. Điện thoại: 043 8386867 (máy lẻ 102)

V. LÃNH ĐẠO CÁC TỔ CHỨC, ĐOÀN THỂ TRONG KHOA

  1. Chi bộ Khoa- Bí thư­:             TS. Bùi Văn Vần
  2. Công đoàn Khoa- Chủ  tịch:          TS.Đoàn Hương Quỳnh
  3.  Liên chi đoàn Khoa- Bí thư­:          ThS. Nguyễn Trường Giang
  4. Chi đoàn giáo viên khoa:         ThS. Nguyễn Trường Phương

VI. ĐỊA CHỈ LIÊN HỆ CỦA KHOA

  • Địa chỉ liên hệ: Khoa TCDN, phòng 101 và 102, nhà hiệu bộ- Học viện Tài chính – số 1 Lê Văn Hiến, Đức Thắng, Bắc Từ Liêm – Hà Nội.
  • Điện thoại liên hệ: 043 8385509 (máy lẻ 101)
  • Email: khoatcdn@gmail.com

VII. DANH SÁCH LÃNH ĐẠO KHOA TCDN CÁC THỜI KỲ

(Thành lập 1963)

  1. Trưởng khoa:
TT Họ và tên Giai đoạn Ghi chú
  1.   
Thầy giáo Trương Thừa Uyên 1963-1972 Đã mất
  1.   
TS. Võ Thành Hiệu 1972-1975 Đã mất
  1.   
PGS,TS Trần Văn Tá 1981-1984
  1.   
TS. Mai Thiệu 1984-1987
  1.   
NGUT. Huỳnh Đình Trữ 1987-1991 Đã mất
  1.   
PGS,TS. NGUT Nguyễn Đình Kiệm 1991-1999
  1.   
PGS,TS. NGUT Nguyễn Thị Mùi 1999-2001
  1.   
PGS,TS. NGUT Nguyễn Đình Kiệm 2002-2006
  1.   
PGS,TS. NGUT Vũ Công Ty 2006-2014
  1.   
TS. Bùi Văn Vần Từ 2014
  1. Phó Trưởng khoa:
TT Họ và tên Giai đoạn Ghi chú
  1.   
Thầy giáo Lưu Văn Nhã 1963-1972 Đã mất
  1.   
Thầy giáo Nguyễn Văn Quảng 1973-1974 Đã mất
  1.   
NGUT. Huỳnh Đình Trữ 1981-1986 Đã mất
  1.   
Thầy giáo Lê Văn Tiêu 1985-1994 Đã mất
  1.   
PGS,TS. Đỗ Văn Thành 1984-1985
  1.   
Thầy giáo Nguyễn Tiến Hiền 1985-1988
  1.   
TS. Bạch Đức Hiển 1990-2010
  1.   
PGS,TS.NGND. Nguyễn Đăng Nam 1994-1998
  1.   
TS. Bùi  Văn Vần 1998 - 2014
  1.   
ThS. Vũ Viết Thựu 2004
  1.   
TS. Phạm Văn Bình Từ 2008
  1.   
TS. Vũ Văn Ninh Từ 2012
  1.   
PGS,TS. Nghiêm Thị Thà Từ 2014
  1.   
TS. Đoàn Hương Quỳnh Từ 2014

Ghi chú: Giai đoạn 1976-1980 khoa Tài vụ sáp nhập vào khoa Tài chính ngân sách thành khoa Tài chính

Khoa Kinh tế (Thành lập năm 2012)[sửa | sửa mã nguồn]

Khoa Tại chức (Tiền thân là khoa Giáo dục thường xuyên, thành lập 8/4/1968)[sửa | sửa mã nguồn]

Khoa Sau đại học (Thành lập 19/01/1987)[sửa | sửa mã nguồn]

Khoa Ngoại ngữ (Thành lập tháng 3/2007)[sửa | sửa mã nguồn]

Khoa Hệ thống thông tin kinh tế (Thành lập tháng 9/2003)[sửa | sửa mã nguồn]

Khoa Quản trị kinh doanh (Thành lập năm 2003)[sửa | sửa mã nguồn]

Khoa Thuế - Hải quan (Thành lập tháng 9/2003)[sửa | sửa mã nguồn]

Khoa Ngân hàng bảo hiểm (Thành lập năm 1964)[sửa | sửa mã nguồn]

Khoa Tài chính quốc tế (Thành lập năm 2002)[sửa | sửa mã nguồn]

Khoa Tài chính công (Thành lập năm 1965)[sửa | sửa mã nguồn]

Khoa Lý luận chính trị (thành lập 9/2003 tiền thân là khoa Mác- Lê Nin và tư tưởng Hồ Chí Minh)[sửa | sửa mã nguồn]

Khoa Cơ bản (Tiền thân là Khoa Đại cương thành lập năm 1994)[sửa | sửa mã nguồn]

Các Ban chức năng[sửa | sửa mã nguồn]

Văn phòng Học viện[sửa | sửa mã nguồn]

Ban Tổ chức Cán bộ[sửa | sửa mã nguồn]

Ban Quản lí Đào tạo[sửa | sửa mã nguồn]

Ban Quản lí Khoa học[sửa | sửa mã nguồn]

Ban Công tác chính trị và sinh viên[sửa | sửa mã nguồn]

Ban Hợp tác Quốc tế[sửa | sửa mã nguồn]

Ban Thanh tra Giáo dục[sửa | sửa mã nguồn]

Ban Tài chính Kế toán[sửa | sửa mã nguồn]

Ban Quản trị thiết bị[sửa | sửa mã nguồn]

Ban khảo thí và quản lí chất lượng[sửa | sửa mã nguồn]

Thư viện[sửa | sửa mã nguồn]

Trạm Y tế[sửa | sửa mã nguồn]

Các khối Đoàn thể[sửa | sửa mã nguồn]

Ban vì sự tiến bộ của phụ nữ[sửa | sửa mã nguồn]

Hội cựu chiến binh[sửa | sửa mã nguồn]

Văn phòng Đảng ủy[sửa | sửa mã nguồn]

Công đoàn[sửa | sửa mã nguồn]

Đoàn Thanh niên[sửa | sửa mã nguồn]

Hội sinh viên[sửa | sửa mã nguồn]

Các Đơn vị sự nghiệp[sửa | sửa mã nguồn]

Trung tâm Thông tin[sửa | sửa mã nguồn]

Trung tâm ngoại ngữ - Tin học[sửa | sửa mã nguồn]

Trung tâm Bồi dưỡng và Tư vấn Tài chính Kế toán[sửa | sửa mã nguồn]

Viện Đào tạo quốc tế[sửa | sửa mã nguồn]

Viện Kinh tế Tài chính[sửa | sửa mã nguồn]

Các ngành đào tạo[sửa | sửa mã nguồn]

  • Tài chính - Ngân hàng;
  • Kế toán;
  • Quản trị kinh doanh;
  • Hệ thống thông tin kinh tế (Tin học tài chính Kế toán)
  • Tiếng Anh tài chính(tuyển sinh từ năm học 2006-2007).
  • Kinh tế (Tuyển sinh từ năm học 2013 - 2014)

Chuyên ngành đào tạo[sửa | sửa mã nguồn]

  1. Tài chính công mã số 01;
  2. Thuế mã số 02;
  3. Bảo hiểm mã số 03;
  4. Hải quan mã số 05;
  5. Tài chính quốc tế mã số 08;
  6. Tài chính doanh nghiệp mã số 11;
  7. Ngân hàng mã số 15;
  8. Định giá tài sản và kinh doanh bất động sản mã số 16;
  9. Kinh doanh chứng khoán mã số 17;
  10. Phân tích chính sách tài chính mã số 18;
  11. Đầu tư tài chính mã số 19 (Từ khóa 51)
  12. Kế toán doanh nghiệp mã số 21;
  13. Kiểm toán mã số 22;
  14. Kế toán công mã số 23;
  15. Quản trị doanh nghiệp mã số 31;
  16. Marketing mã số 32;
  17. Tin học tài chính - kế toán mã số 41;
  18. Tiếng Anh tài chính - kế toán mã số 51.
  19. Kinh tế Đầu tư Tài chính mã số 61
  20. Kinh tế các nguồn lực Tài chính mã số 62
  21. Luật Kinh tế Tài chính mã số 63

Thành tích[sửa | sửa mã nguồn]

  • Huân chương Hồ Chí Minh (2013)
  • Cờ thi đua Chính phủ (2012)
  • Bằng khen Thủ tướng Chính phủ (2011)
  • Cờ thi đua Chính phủ (2010)
  • Huân chương ITSALA (CHDCND Lào) (2008)
  • Huân chương Độc lập hạng Nhất (2008)
  • Cờ thi đua Chính phủ (2006)
  • Huân chương Độc lập hạng Nhì (2003)
  • Huân chương Hữu nghị (CHDCND Lào) (2008)
  • Huân chương Độc lập hạng Ba (1998)
  • Huân chương Lao động hạng Nhất (1993)
  • Huân chương Lao động hạng Nhì (1988)
  • Huân chương Lao động hạng Ba (1983)

Một vài cựu sinh viên nổi tiếng[1][sửa | sửa mã nguồn]

Các tạp chí, tập san và ấn phẩm do Học viện Tài chính xuất bản[sửa | sửa mã nguồn]

  • Tạp chí Nghiên cứu Tài chính kế toán - 12 số/năm
  • Nội san Sinh viên nghiên cứu khoa học - 10 số/năm
  • Thông tin tài chính - 2 số/tháng
  • Thông tin phục vụ lãnh đạo - 2 số/tháng
  • Sách chuyên đề -5- số/năm
  • Bản tin thị trường hàng ngày - hàng ngày
  • Bản tin thị trường - 1 số/tuần
  • Bản tin thị trường chủ nhật - 1 số/tuần
  • Bản tin Thời để nhớ - 1 số/tháng

Các hoạt động Sinh viên tiêu biểu[sửa | sửa mã nguồn]

  • Cuộc thi Olympic Kinh tế học, Hội trại chuyên ngành, AOF Truyền thống và Tương lai, Gameshow "Con số và nốt nhạc", cuộc thi Melody for You, Tìm kiếm Tài năng sinh viên (Đoàn Thanh niên)
  • Hội ngộ Tháng giêng, Micro Vàng, Chào Tân sinh viên (Hội sinh viên)
  • Festival Kế toán: Bạn là Kế toán trưởng tương lai, Cuộc thi Mô hình Doanh nghiệp Kế toán Kiểm toán ảo,Ngày hội Nghề nghiệp Kế toán Kiểm toán], Ngày hội thực tập, Gala chào Tân sinh viên, FoA Xfactor 2014, FoA Got Talent 2014 (Khoa Kế toán)
  • Festival: Giám đốc Tài chính tương lai, Hot Star 2014 (Khoa Tài chính Doanh nghiệp)
  • Festival Tài chính Công (Khoa Tài chính Công)
  • Festival Bảo Ngân Khám Phá (Khoa Ngân hàng Bảo Hiểm)
  • Festival Thuế (Khoa Thuế Hải Quan)
  • Festival 08 (Khoa Tài chính Quốc tế)
  • Festival Ngoại ngữ, Star hunt 2014 (Khoa Ngoại ngữ)
  • Cuộc thi Vua Marketing (Khoa QTKD)

Hợp tác quốc tế[sửa | sửa mã nguồn]

  • Quan hệ quốc tế: Với mục đích không ngừng nâng cao chất lượng đào tạo và nghiên cứu khoa học, Học viện Tài chính luôn coi trọng việc mở rộng các mối quan hệ hợp tác quốc tế. Hiện tại Học viện có quan hệ hợp tác trong lĩnh vực đào tạo và nghiên cứu khoa học với các trường Đại học và các Học viện, Viện ở các nước như:
  1. Đại học Leeds Met, Anh Quốc - Chương trình Thạc sỹ Tài chính và Ngoại thương
  2. Trường Đại học Kinh tế Tài chính Xant-Petecbua (Cộng hoà Liên bang Nga)
  3. Học viện Tài chính trực thuộc Chính phủ CH Liên bang Nga.
  4. Trường Đại học Québec ở Montréal, Canada.
  5. Hiệp hội thẩm định giá Bộ Tài chính Trung Quốc
  6. Trường Đại học Kinh tế - Tài chính Trung ương, Trung Quốc.
  7. Học viện Tài chính Kinh tế Quảng Tây, Trung Quốc
  8. Trường Đại học Troy (TSU), Hoa Kỳ.
  9. Trường Đại học Sorbone, Pháp
  10. Viện Bảo hiểm Lion, Pháp
  11. Trường Cao đẳng Tài chính Đông Khăm Xạng, Lào
  12. Trường Bảo hiểm quốc gia, Pháp
  13. Quỹ Hòa bình SASAKAWA (Nhật Bản)
  14. Tổ chức đầu tư thị trường chứng khoán SMIG, Ôxtraylia
  15. Trường Cao đẳng Quốc tế Lào
  • Các dự án quốc tế đang thực hiện:
  1. Dự án đào tạo cán bộ Tài chính cho Bộ Tài chính Lào
  2. Dự án Tài chính công FSP
  3. Dự án Sasakawa, Nhật Bản
  4. Dự án Nâng cao phát triển năng lực ngân sách giới

Xem thêm[sửa | sửa mã nguồn]

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]