HMS Canterbury (1915)

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
HMS Canterbury (1915).jpg
Tàu tuần dương hạng nhẹ HMS Canterbury
Phục vụ (Anh Quốc) Naval Ensign of the United Kingdom.svg
Tên gọi: HMS Canterbury
Hãng đóng tàu: John Brown & Company, Clydebank
Đặt lườn: 14 tháng 10 năm 1914
Hạ thủy: 21 tháng 12 năm 1915
Nhập biên chế: tháng 4 năm 1916
Số phận: Bị bán để tháo dỡ, 27 tháng 7 năm 1934
Đặc điểm khái quát
Lớp và kiểu: lớp tàu tuần dương C
Kiểu: Tàu tuần dương hạng nhẹ
Trọng tải choán nước: 3.750 tấn (tiêu chuẩn)
Độ dài: 135,9 m (446 ft) (chung)
Sườn ngang: 12,6 m (41 ft 6 in)
Mớn nước: 4,6 m (15 ft)
Động cơ đẩy: 2 × turbine hơi nước Parsons
8 × nồi hơi Yarrow
4 × trục
công suất 40.000 mã lực (29,8 MW)
Tốc độ: 52,8 km/h (28,5 knot)
Tầm xa: 10.930 km ở tốc độ 18,5 km/h
(5.900 hải lý ở tốc độ 10 knot)
Tầm hoạt động: 420 tấn dầu đốt (tối đa 841 tấn)
Thủy thủ đoàn
đầy đủ:
323
Vũ trang:

4 × hải pháo BL 152 mm (6 inch) /45 caliber Mark XII (4×1)

1 × hải pháo QF 102 mm (4 inch) /45 caliber Mark V [1]
2 × pháo 76 mm (3 inch)
2 × hải pháo QF 2 pounder
6 × ống phóng ngư lôi 533 mm (21 inch)
Bọc giáp: đai giáp chính: 76 mm (3 inch) giữa tàu
38-64 mm (1,5-2,5 inch) mũi
51-64 mm (2-2,5 inch) đuôi
sàn trên: 25 mm (1 inch) giữa tàu
sàn chính: 25 mm (1 inch) bên trên bánh lái

HMS Canterbury là một tàu tuần dương hạng nhẹ thuộc lớp tàu tuần dương C của Hải quân Hoàng gia Anh Quốc được chế tạo trong giai đoạn Chiến tranh Thế giới thứ nhất, và thuộc về lớp phụ Cambrian. Lớp phụ này, vốn còn bao gồm HMS Cambrian, HMS CastorHMS Constance, về căn bản dựa trên cấu trúc lườn của lớp phụ Caroline nhưng chỉ có hai ống khói và độ dày tối đa của đai giáp lên đến 102 mm (4 inch) thay vì 76 mm (3 inch) như của Caroline. Không giống như những chiếc còn lại trong nhóm, Canterbury được trang bị sáu ống phóng ngư lôi thay vì bốn.

Canterbury được chế tạo bởi hãng John Brown & Company tại Clydebank. Nó được đặt lườn vào ngày 14 tháng 10 năm 1914; được hạ thủy vào ngày 21 tháng 12 năm 1915; và được đưa ra hoạt động cùng Hải quân Hoàng gia vào tháng 4 năm 1916 dưới quyền chỉ huy của Thuyền trưởng, Đại tá Hải quân Percy M. R. Royds.

Trong chiến tranh, Canterbury được phân về Hạm đội Grand, và đã cùng với các tàu chị em CastorConstance tham gia trận Jutland vào ngày 31 tháng 51 tháng 6 năm 1916. Nó sống sót qua trận chiến, và sau đó được phân về Hải đội Tuần dương nhẹ 5, hoạt động cùng với Lực lượng Harwich để phòng thủ lối tiếp cận từ phía Đông của eo biển Anh Quốc. Vào ngày 5 tháng 6 năm 1917, trong khi phục vụ cùng Lực lượng Harwich, Canterbury đã đánh chìm tàu phóng lôi S 20 ngoài khơi bờ biển nước Bỉ. Đến năm 1918 nó được phân công hoạt động tại khu vực biển Aegean, nơi nó trải qua thời gian còn lại của chiến tranh mà không có sự kiện nào khác.

Được xem là lạc hậu vào những năm 1930, nó bị bán vào ngày 27 tháng 7 năm 1934 cho hãng Metal Industries tại Rosyth để được tháo dỡ.

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]