HMS Colombo (D89)

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
HMS Colombo.jpg
Tàu tuần dương HMS Colombo như một tàu phòng không, tháng 7 năm 1943
Phục vụ (Anh Quốc) Naval Ensign of the United Kingdom.svg
Tên gọi: HMS Colombo
Đặt tên theo: Colombo, Ceylon
Hãng đóng tàu: Fairfield Shipbuilding and Engineering Company
Đặt lườn: 8 tháng 12 năm 1917
Hạ thủy: 18 tháng 12 năm 1918
Nhập biên chế: 18 tháng 6 năm 1919
Số phận: Bị bán để tháo dỡ, 22 tháng 1 năm 1948
Đặc điểm khái quát
Lớp và kiểu: lớp tàu tuần dương C
Trọng tải choán nước: 4.200 tấn (tiêu chuẩn)
5.300 tấn (đầy tải)
Độ dài: 137,2 m (450 ft) (chung)
Sườn ngang: 13,3 m (43 ft 7 in)
Mớn nước: 4,3 m (14 ft)
Động cơ đẩy: 2 × turbine hơi nước hộp số Parsons
6 × nồi hơi Yarrow
2 × trục
công suất 40.000 mã lực (29,8 MW)
Tốc độ: 54,6 km/h (29,5 knot)
Tầm xa: 10.930 km ở tốc độ 18,5 km/h
(5.900 hải lý ở tốc độ 10 knot)
Tầm hoạt động: 300 tấn dầu đốt (tối đa 950 tấn)
Thủy thủ đoàn
đầy đủ:
330-350
Vũ trang: 5 × hải pháo BL 152 mm (6 inch) Mark XII (5×1)
2 × hải pháo QF 76 mm (3 inch) 20 cwt phòng không (2×1)[1]
4 × pháo phòng không QF 3 pounder (4×1)
2 × pháo phòng không QF 2 pounder (2×1)
1 × súng máy
8 × ống phóng ngư lôi 533 mm (21 inch) (4×2)
Bọc giáp: đai giáp chính: 76 mm (3 inch) giữa tàu
38-57 mm (1½-2¼ inch) mũi
51 mm (2 inch) đuôi
sàn tàu: 25 mm (1 inch) sàn trên và bên trên bánh lái

HMS Colombo (D89) là một tàu tuần dương hạng nhẹ thuộc lớp tàu tuần dương C của Hải quân Hoàng gia Anh Quốc, được chế tạo trong giai đoạn cuối Chiến tranh Thế giới thứ nhất, và thuộc lớp phụ Carlise, vốn còn bao gồm HMS Carlisle, HMS Cairo, HMS CalcuttaHMS Capetown, khác biệt so với các lớp phụ trước đó, khi được bổ sung một "mũi tàu đánh cá" nâng mũi tàu lên cao hơn để đi biển tốt hơn, cũng như không có các tháp chỉ huy hỏa lực. Tên của nó được đặt theo thủ đô Colombo của Ceylon, tức Sri Lanka ngày hôm nay, và nó là chiếc tàu duy nhất của Hải quân Hoàng gia được mang cái tên này.

Colombo được đặt lườn tại xưởng đóng tàu Fairfield Shipbuilding and Engineering Company vào ngày 8 tháng 12 năm 1917. Nó được hạ thủy vào ngày 18 tháng 12 năm 1918 và được đưa ra hoạt động cùng Hải quân Hoàng gia vào ngày 18 tháng 6 năm 1919. Colombo được đưa ra hoạt động quá trễ để có thể tham gia Thế Chiến I, nhưng đã phục vụ trong Chiến tranh Thế giới thứ hai.

Trong những năm giữa hai cuộc thế chiến, nó phục vụ tại Viễn Đông cùng với Hạm đội Viễn Đông từ tháng 6 năm 1919 đến năm 1926, trước khi được bố trí đến American and West Indies Station. Nó quay trở lại Hạm đội Viễn Đông từ tháng 7 năm 1932 đến năm 1935, trước khi quay trở về Anh Quốc để được đưa về lực lượng dự bị.

Nó trải qua giai đoạn đầu của Chiến tranh Thế giới thứ hai cùng với Hạm đội Nhà Anh Quốc, khi nó chiếm được tàu buôn Đức Henning Oldendorff về phía Đông Nam Iceland; và nó cũng tham gia việc săn đuổi các tàu chiến-tuần dương Đức ScharnhorstGneisenau sau vụ đánh chìm chiếc HMS Rawalpindi. Sau đó nó quay trở lại phục vụ tại Hạm đội Viễn Đông từ tháng 8 năm 1940 đến tháng 6 năm 1942 trước khi lại quay trở về Anh Quốc cho một đợt tái trang bị và cải biến từ tháng 6 năm 1942 đến tháng 3 năm 1943.

Giống như đa số các tàu chị em, nó được cải biến thành một tàu tuần dương phòng không, và tiếp tục phục vụ cho đến hết chiến tranh với khả năng này. Colombo sống sót qua cuộc chiến tranh, và bị bán để tháo dỡ vào ngày 22 tháng 1 năm 1948. Nó được cho kéo đến xưởng tàu của Cashmore tại Newport vào ngày 13 tháng 5 năm 1948 để tháo dỡ.

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]