I Want It That Way

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
"I Want It That Way"
Đĩa đơn của Backstreet Boys
từ album Millennium
Phát hành 12 tháng 4 năm 1999
Định dạng CD, 7", 12", cassette
Thu âm Tháng 11 năm 1998
Cheiron Studios
(Stockholm, Thụy Điển)
Thể loại Teen pop
Thời lượng 3:33
Hãng đĩa Jive Records
Sáng tác Max Martin, Andreas Carlsson
Sản xuất Max Martin
Kristian Lundin
Thứ tự đĩa đơn của Backstreet Boys
"All I Have to Give"
(1998)
"I Want It That Way"
(1999)
"Larger Than Life"
(1999)

"I Want It That Way" là bài hát của Backstreet Boys, được sáng tác bởi Max MartinAndreas Carlsson, cùng với một số nhà sản xuất khác. Nó đã được phát hành tháng 4 năm 1999 làm đĩa đơn mở đầu cho album phòng thu thứ ba của họ, Millennium. Bài hát cũng đã có mặt lại trong tuyển tập The Hits - Chapter One, phát hành năm 2001. Đây là một trong những bài hát thành công và ghi dấu ấn nhất của Backstreet Boys, nhận được nhiều đề cử và giải thưởng trong đó có giải Grammy, Giải Video âm nhạc của MTVBillboard Awards.

Thông tin[sửa | sửa mã nguồn]

"I Want It That Way" được sáng tác vào khoảng tháng 10 năm 1998 bởi nhà sản xuất Max Martin và Andreas Carlsson, hai nhà sản xuất hợp tác thường xuyên với nhóm. Tháng 11 năm 1998, các thành viên Backstreet Boys đã đến Stockholm để thu âm bài hát. Lúc đầu, "I Want It That Way" không phải là đĩa đơn mở đầu mà thay vào đó là "Larger Than Life", vì việc thu âm của nó được hoàn thành trước "I Want It That Way". Tuy nhiên sau đó, "I Want It That Way" đã được chọn.

Thành công[sửa | sửa mã nguồn]

Bài hát đã phá vỡ kỉ lục về tần suất phát thanh tuần đầu tiên ở các đài phát thanh. Nó đạt vị trí số 1 trên bảng xếp hạng Billboard Hot Adult Contemporary Tracks trong 10 tuần (không liên tiếp).[1] Trên bảng xếp hạng Top 40 Mainstream chart, it set a record for most weeks at #1. Tuy nhiên, đĩa đơn lại không đạt được vị trí dẫn đầu Billboard Hot 100, dừng lại ở vị trí #6.

Đĩa đơn là hit lớn ở Vương quốc Liên hiệp Anh và Bắc Ireland, với vị trí quán quân trên UK Singles Chart ngay khi ra mắt.[2] "I Want It That Way" cũng làm nên lịch sử ở bảng xếp hạng Hà Lan, khi trở thành đĩa đơn đầu tiên đạt vị trí quán quân Dutch Top 40 mà không cần lọt qua Tip Parade trước đó. Ca khúc cũng đạt vị trí #1 ngay khi ra mắt ở Áo, Canada, Đức, Tây Ban Nha, Thụy Sĩ và Ý.

Ngoài các bảng xếp hạng đĩa đơn của các quốc gia, bài hát cũng được đánh giá cao trên các bảng xếp hạng khác. Nó đạt vị trí #3 trong danh sách 100 ca khúc vĩ đại nhất thập niên '90 của kênh VH1 vào tháng 12 năm 2007, #10 trong danh sách của MTV/Rolling Stone cho 100 ca khúc nhạc pop vĩ đại nhất mọi thời đại năm 2000. Ca khúc xếp thứ 16 trong danh sách 500 ca khúc vĩ đại nhất từ khi bạn sinh ra của tạp chí Blender, #61 trong 100 ca khúc vĩ đại nhất trong 25 năm qua của VH1 tháng 6 năm 2003.

"I Want It That Way" đã được đề cử cho 3 giải Grammy năm 2000 ở các hạng mục Ghi âm của năm, Bài hát của năm và Best Pop Duo or Group Performance. Tuy nhiên, cả ba giải thưởng đều đã lọt vào "Smooth (bài hát)" của Santana[3]

Video âm nhạc[sửa | sửa mã nguồn]

Danh sách track[sửa | sửa mã nguồn]

CD1[sửa | sửa mã nguồn]

  1. "I Want It That Way" (Bản radio) - 3:34
  2. "My Heart Stays With You" - 3:37
  3. "I'll Be There for You" - 4:43

CD2[sửa | sửa mã nguồn]

  1. "I Want It That Way" (Bản album)
  2. "I Want It That Way" (Bản David Morales Club)
  3. "I Want It That Way" (The Wunder Dub)
  4. "I Want It That Way" (Jazzy Jim Vocal Mix)

Xếp hạng[sửa | sửa mã nguồn]

Tiền nhiệm:
"We're Going to Ibiza" của Vengaboys
Đĩa đơn quán quân Dutch Top 40
29 tháng 5 – 5 tháng 6 năm 1999
Kế nhiệm:
"Best Friend" của Toy-Box
Tiền nhiệm:
"...Baby One More Time" của Britney Spears
Đĩa đơn quán quân European Hot 100 Singles
22 tháng 5 năm 1999 (7 tuần)
Kế nhiệm:
"My Love Is Your Love" của Whitney Houston
Tiền nhiệm:
"Swear It Again" của Westlife
Đĩa đơn quán quân UK Singles Chart
9 tháng 5 – 16 tháng 5 1999
Kế nhiệm:
"You Needed Me" của Boyzone
Tiền nhiệm:
"Look at Me" của Geri Halliwell
Đĩa đơn quán quân New Zealand Singles Chart
9 tháng 5 – 16 tháng 5 1999
Kế nhiệm:
"Livin' la Vida Loca" của Ricky Martin
Tiền vị:
"You'll Be in My Heart" của Phil Collins
Đĩa đơn quán quân Billboard Adult Contemporary
31 tháng 7 năm 1999 (lần 1)
28 tháng 8 năm 1999 (lần 2)
2 tháng 10 – 9 tháng 10 năm 1999 (lần 3)
Kế vị
"You'll Be in My Heart" của Phil Collins
Tiền vị:
"You'll Be in My Heart" của Phil Collins
Đĩa đơn quán quân Billboard Adult Contemporary
6 tháng 11 – 11 tháng 12 năm 1999 (lần 4)
Kế vị
"That's the Way It Is" của Céline Dion
Tiền nhiệm:
"Flat Beat" của Mr. Oizo
Đĩa đơn quán quân German Singles Chart
14 tháng 5 năm 1999 (2 tuần)
Kế nhiệm:
"Mambo No. 5" của Lou Bega
Tiền nhiệm:
"Changes" của Tupac
Đĩa đơn quán quân Norwegian Singles Chart
Tuần 18 năm 1999 (2 tuần)
Kế nhiệm:
"Boom, Boom, Boom, Boom!!" của Vengaboys
Tiền nhiệm:
"...Baby One More Time" của Britney Spears
Đĩa đơn quán quân Austrian Singles Chart
16 tháng 5 (2 tuần)
Kế nhiệm:
"Flat Beat" của Mr. Oizo
Tiền nhiệm:
"...Baby One More Time" của Britney Spears
Đĩa đơn quán quân Swiss Singles Chart
16 tháng 5 năm 1999 (3 tuần)
Kế nhiệm:
"Mambo No. 5" của Lou Bega

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Whitburn, Joel (2002). Top Adult Contemporary: 1961-2001. Record Research. tr. 26. 
  2. ^ a ă Chart Stats - Backstreet Boys - I Want It That Way
  3. ^ http://www.rockonthenet.com/archive/2000/grammys.htm
  4. ^ austriancharts.at
  5. ^ ultratop.be/nl
  6. ^ ultratop.be/fr
  7. ^ “Top Singles - Volume 69, No. 9, June 21 1999”. RPM. Truy cập ngày 30 tháng 1 năm 2011. 
  8. ^ “Hits of the World: Denmark (IFPI/Nielsen Marketing Research) 06/07/99”. Billboard (Nielsen Business Media) 111 (25): 53. 19 tháng 6 năm 1999. ISSN 0006-2510. 
  9. ^ finnishcharts.com
  10. ^ lescharts.com
  11. ^ charts.org.nz
  12. ^ norwegiancharts.com
  13. ^ swedishcharts.com
  14. ^ “Top Singles - Volume 70, No. 8, December 13, 1999”. RPM. Truy cập ngày 3 tháng 11 năm 2010. 
  15. ^ “Billboard Top 100 - 1999”. Truy cập ngày 28 tháng 8 năm 2010. 

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]