Mạnh Đặc Mục

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm

Mạnh Đặc Mục (tiếng Mãn:, phiên âm: Mentemu, tiếng Trung: 孟特穆; bính âm: Mèngtèmù, 1370-1433), cũng gọi là Mãnh Ca Thiếp Mộc Nhĩ/Nhi (猛哥帖木耳, 猛哥帖木兒), thuộc gia tộc Ái Tân Giác La, là người Kiến Châu Nữ Chân vào thời nhà Minh, vào thời nhà Nguyên là thủ lĩnh bộ lạc Oát Đóa Lý. Năm 388, Minh Thái Tổ liên hệ với ba bộ Nữ Chân là Hồ Lý Cải (胡里改), Thác Ôn (托溫) và Oát Đóa Lý (斡朵里), lập liên minh đối phó với Mông Cổ. Ba bộ lạc Nữ Chân này sống tại khu vực ven Tùng Hoa GiangMẫu Đơn Giang thuộc huyện Y Lan của tỉnh Hắc Long Giang ngày nay, sau đó thiên di về phía lưu vực Đồ Môn Giang. Vào thời nhà Nguyên khu vực này thuộc Hề Quan tổng quản phủ. Đến năm, Vĩnh Lạc thứ nhất (1403), tại địa phận của Hồ Lý Cải bộ thiết lập Kiến Châu vệ, nay là lưu vực Tuy Phân Hà (sông Razdolnaya), thủ lĩnh Hồ Lý Cải Bộ A Cáp Xuất (阿哈出) (được ban tên Hán là Lý Thừa Thiện (李承善)) làm chỉ huy sứ. Sau đó, Oát Đóa Lý bộ lại lập Kiến Châu tả vệ, Mạnh Đặc Mục làm chỉ huy sứ.

Mạnh Đặc Mục làm Kiến Châu tả vệ chỉ huy sứ từ 1405-1433. Ông là phụ thân của Sung Thiện, tổ phụ của Tích Bảo Tề Thiên Cổ, tằng tổ phụ của Phúc Mãn, cao tổ phụ của Giác Xương An, tổ tiên 5 đời của Tháp Khắc Thế, tổ tiên 6 đời của Thanh Thái Tổ Nỗ Nhĩ Cáp Xích. Sau khi quân Thanh tiến vào Trung Nguyên, nhà Thanh truy tôn ông là Nguyên Hoàng đế, miếu hiệu là Triệu Tổ.[1]

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]