Oanh châu Âu

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Oanh châu Âu
Erithacus rubecula -Norway -singing-8.jpg
Con trưởng thành đang hót ở Na Uy
Tình trạng bảo tồn
Phân loại khoa học
Giới (regnum) Animalia
Ngành (phylum) Chordata
Lớp (class) Aves
Bộ (ordo) Passeriformes
Họ (familia) Muscicapidae
Phân họ (subfamilia) Cossyphinae
Chi (genus) Erithacus
Loài (species) E. rubecula
Danh pháp hai phần
Erithacus rubecula
(Linnaeus, 1758)
     Hè      Định cư      Đông

     Hè      Định cư      Đông
Các phân loài
7-10, xem bài.

Oanh châu Âu (danh pháp hai phần: Erithacus rubecula) là một loài chim thuộc Họ Đớp ruồi. Loài chim này dài 12,5–14 cm, con trống và con mái có màu sắc giống nhau, với ngực màu cam và mặt có dòng kẻ màu xám, phía trên nâu với bụng hơi trắng. Loài này phân bố khắp châu Âu, phía đông đến tận tây Xibia và phía nam đến tận Bắc Phi. Nó là loài không di trú trong phần lớn khu vực phân bố, trừ ở cực bắc. Trước đây oanh châu Âu được đặt trong tông tông Saxicolini thuộc Họ Hoét, nhưng phần lớn các tác giả hiện nay đặt nhóm này trong họ Đớp ruồi (Muscicapidae).

Phân bố và nơi sống[sửa | sửa mã nguồn]

Oanh châu Âu hiện diện tại Âu Á Đông đến Tây Xibia, phía nam Algérie và các đảo Đại Tây Dương xa phía tây tận AçoresMadeira. Ở đông nam, nó có mặt ở dãy Kavkaz. Quần thể oanh châu Âu Anh phần lớn là loài cư trú, nhưng một thiểu số nhỏ, thường là con cái, di chuyển đến miền nam châu Âu trong mùa đông, một số như xa như Tây Ban Nha. ScandinaviaNga di chuyển đến Anh và Tây Âu để thoát khỏi mùa đông khắc nghiệt. Những con di cư này có thể được nhận ra nhờ đơn điệu hơn của các bộ phận trên cơ thể của chúng và ngực màu cam tối hơn. Oanh châu Âu thích cây vân sam rừng ở Bắc Âu, tương phản với sở thích của chúng cho công viên và khu vườn ở quần đảo Anh British.[1] Các nỗ lực để du nhập oanh châu Âu vào Australia và New Zealand trong các phần sau của thế kỷ 19 đã không thành công. Các con chim đã được thả hành xung quanh Melbourne, Auckland, Christchurch, WellingtonDunedin của các hội thích nghi khí hậu địa phương đã không được thiết lập. Có một kết quả tương tự ở Bắc Mỹ như loài chim không thiết lập sau khi được thả tại Long Island, New York năm 1852, Oregon trong 1889-1892, và bán đảo Saanich British Columbia trong 1908-1910.[2]

Phân loài[sửa | sửa mã nguồn]

  • E. r. melophilus Hartert, 1901: Đảo Anh
  • E. r. rubecula (Linnaeus, 1758): Châu Âu lục địa tới dãy núi Ural, tây Thổ Nhĩ Kỳ, các đảo ở đông Đại Tây Dương và tây bắc Morocco.
  • E. r. superbus Koenig, AF, 1889: miền trung quần đảo Canary.
  • E. r. witherbyi Hartert, 1910: Bắc Algeria và bắc Tunisia.
  • E. r. valens Portenko, 1954: Nam Krym (nam Ukraina).
  • E. r. caucasicus Buturlin, 1907: Đông Thổ Nhĩ Kỳ và Kavkaz.
  • E. r. hyrcanus Blanford, 1874: Đông nam Azerbaijan và bắc Iran.
  • E. r. tataricus Grote, 1928: Dãy núi Ural và tây nam Xibia.

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Jonsson, Lars (1976). Birds of Wood, Park and Garden. Middlesex, England: Penguin. tr. 90. ISBN 0-14-063002-3. 
  2. ^ Long, John L. (1981). Introduced Birds of the World: The worldwide history, distribution and influence of birds introduced to new environments. Terrey Hills, Sydney: Reed. tr. 309. ISBN 0-589-50260-3. 

Đọc thêm[sửa | sửa mã nguồn]

  • Lack, Andrew (2008). Redbreast: The Robin in Life and Literature. SMH Books. ISBN 978-0-9553827-2-7. 

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]