Oboro (tàu khu trục Nhật) (1930)

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Oboro
Tàu khu trục Oboro vào ngày 22 tháng 7 năm 1936
Phục vụ (Nhật Bản) Naval Ensign of Japan.svg
Tên gọi: Oboro
Đặt hàng: Năm tài chính 1923
Hãng đóng tàu: xưởng hải quân Sasebo
Số hiệu xưởng đóng tàu: Tàu khu trục số 51
Đặt lườn: 29 tháng 11 năm 1929
Hạ thủy: 8 tháng 11 năm 1930
Nhập biên chế: 31 tháng 10 năm 1931
Xóa đăng bạ: 15 tháng 11 năm 1942
Số phận: Bị không kích đánh chìm gần đảo Kiska, 17 tháng 10 năm 1942
Đặc điểm khái quát
Lớp và kiểu: Lớp tàu khu trục Fubuki[1]
Trọng tải choán nước: 1.750 tấn (tiêu chuẩn)
2.050 tấn (tái tạo)
Độ dài: 115,3 m (378 ft) (mực nước)
118,4 m (388 ft 6 in) (chung)
Sườn ngang: 10,4 m (34 ft 1 in)
Mớn nước: 3,2 m (10 ft 6 in)
Động cơ đẩy: 2 × turbine hộp số Kampon
4 × nồi hơi
2 × trục
công suất 50.000 mã lực (37,3 MW)
Tốc độ: 70 km/h (38 knot)
Tầm xa: 9.200 km ở tốc độ 26 km/h (5,000 hải lý ở tốc độ 14 knot)
Thủy thủ đoàn
đầy đủ:
219
Vũ trang: 6 × hải pháo 127 mm (5 inch)/50 caliber Kiểu 3 (3×2)
2 × súng máy 13 mm Kiểu 93 (2×1)
9 × ống phóng ngư lôi 610 mm (24 inch) (3×3)
18 × ngư lôi Kiểu 91
18 × mìn sâu

Oboro (tiếng Nhật: 朧) là một tàu khu trục hạng nhất của Hải quân Đế quốc Nhật Bản, thuộc lớp Fubuki bao gồm hai mươi bốn chiếc, được chế tạo sau khi Chiến tranh Thế giới thứ nhất kết thúc. Khi được đưa vào hoạt động, những con tàu này là những tàu khu trục mạnh mẽ nhất thế giới.[2] Chúng phục vụ như những tàu khu trục hàng đầu trong những năm 1930, và tiếp tục là những vũ khí lợi hại trong cuộc Chiến tranh Thái Bình Dương. Oboro từng tham gia một số hoạt động trong những năm chiến tranh trước khi bị không kích đánh chìm gần đảo Kiska vào ngày 17 tháng 10 năm 1942 trong Chiến tranh Thế giới thứ hai.

Thiết kế và chế tạo[sửa | sửa mã nguồn]

Việc chế tạo lớp tàu khu trục Fubuki tiên tiến được chấp thuận vào năm tài chính 1923 như một phần của chương trình có tham vọng cung cấp cho Hải quân Đế quốc Nhật Bản một ưu thế về chất lượng so với những tàu chiến hiện đại nhất của thế giới.[3] Khả năng thể hiện của lớp Fubuki là một bước nhảy vọt so với các thiết kế tàu khu trục trước đó, nên chúng được gọi là các “tàu khu trục đặc biệt” (tiếng Nhật: 特型 - Tokugata). Kích thước lớn, động cơ mạnh mẽ, tốc độ cao, bán kính hoạt động lớn và vũ khí trang bị mạnh chưa từng có khiến cho các tàu khu trục này có được hỏa lực tương đương nhiều tàu tuần dương hạng nhẹ của hải quân các nước khác.[4] Oboro, được chế tạo tại Xưởng hải quân Sasebo, là chiếc thứ bảy của một loạt tàu được cải tiến, bao gồm kiểu tháp pháo có thể nâng các khẩu pháo chính 127 mm (5 inch)/50 caliber Kiểu 3 lên một góc 75° so với nguyên thủy 40°, cho phép sử dụng chúng như pháo lưỡng dụng có thể chống lại máy bay.[3]

Oboro được đặt lườn vào ngày 29 tháng 11 năm 1929. Nó được hạ thủy vào ngày 8 tháng 11 năm 1930 và đưa ra hoạt động vào ngày 31 tháng 10 năm 1931.[5] Nguyên được dự định mang số hiệu đơn giản là "Tàu khu trục số 51", nó được hoàn tất dưới tên gọi Oboro.

Sự cố đối với Hạm đội 4 Hải quân Đế quốc Nhật Bản, khi một số lớn tàu chiến bị hư hại bởi một cơn bão, xảy ra không lâu sau khi Oboro được đưa vào hoạt động, và nó cùng với các tàu chị em nhanh chóng được cho quay trở lại ụ tàu để gia cường thêm lườn tàu.

Lịch sử hoạt động[sửa | sửa mã nguồn]

Khi hoàn tất, Oboro được phân về Hải đội Khu trục 20 thuộc Hạm đội 2 Hải quân Đế quốc Nhật Bản. Trong cuộc Chiến tranh Trung-Nhật, từ năm 1937, Oboro hỗ trợ cho các cuộc đổ bộ lực lượng Nhật Bản lên Thượng HảiHàng Châu. Từ năm 1940, nó được phân công tuần tra dọc theo bờ biển và hỗ trợ cho việc đổ bộ lên miền Nam Trung Quốc, và sau đó là việc chiếm đóng Đông Dương thuộc Pháp.

Vào lúc xảy ra cuộc tấn công Trân Châu Cảng, Sagiri được phân về Hải đội Tàu sân bay 5 của Không hạm đội 1 Hải quân Đế quốc Nhật Bản, và được bố trí từ Quân khu Hải quân Yokosuka đến Hahajima thuộc quần đảo Bonin, nơi mà sau đó nó tiến hành các hoạt động hỗ trợ cho các cuộc đổ bộ lực lượng Nhật Bản trong việc chiếm đóng Guam.[6]

Từ giữa tháng 12 năm 1941 đến tháng 4 năm 1942, Oboro đặt căn cứ tại Kwajalein, và từ giữa tháng 4 cho đến cuối tháng 8 năm 1942, Oboro đặt căn cứ tại Yokosuka, tuần tra các vùng biển lân cận, và hộ tống các đoàn tàu vận tải từ Yokosuka đến Quân khu Bảo vệ Ōminato về phía Bắc, và đến Quân khu Bảo vệ Mako về phía Tây Nam.

Vào ngày 11 tháng 10 năm 1942, Oboro rời Yokosuka cùng một đoàn tàu vận tải chuyển hàng tiếp liệu hướng đến đảo Kiska thuộc quần đảo Aleut lúc đó còn do Nhật Bản chiếm đóng. Oboro bị đánh chìm vào ngày 17 tháng 10 bởi một cuộc không kích do máy bay ném bom tầm trung B-26 Marauder của Không lực Mỹ thực hiện ở cách 56 km (30 hải lý) về phía Đông Bắc Kiska, ở tọa độ 52°17′B 178°08′Đ / 52,283°B 178,133°Đ / 52.283; 178.133Tọa độ: 52°17′B 178°08′Đ / 52,283°B 178,133°Đ / 52.283; 178.133. Một quả bom ném trúng trực tiếp vào số đạn dược tiếp liệu mang theo đã khiến chiếc tàu khu trục nổ tung và chìm nhanh chóng, chỉ để lại 17 người sống sót, bao gồm vị thuyền trưởng, Thiếu tá Hải quân Yamana, được vớt bởi tàu khu trục Hatsuharu, vốn cũng bị hư hại nặng trong cùng cuộc tấn công này.[7][8]

Vào ngày 15 tháng 11 năm 1942, Oboro được rút khỏi danh sách Đăng bạ Hải quân.[5]

Danh sách thuyền trưởng[sửa | sửa mã nguồn]

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Các đặc tính lấy từ: Fitzsimons, Bernard, ed. Illustrated Encyclopedia of 20th Century Weapons and Warfare (London: Phoebus, 1978), Volume 10, trang 1040-1041, "Fubuki".
  2. ^ Globalsecurity.org. “IJN Fubuki class destroyers”. 
  3. ^ a ă F Fitzsimons, Illustrated Encyclopedia of 20th Century Weapons and Warfare (London: Phoebus, 1977), Volume 10, trang 1040.
  4. ^ Peattie & Evans, Kaigun, trang 221-222.
  5. ^ a ă Nishidah, Hiroshi (2002). “Fubuki class 1st class destroyers”. Materials of the Imperial Japanese Navy. 
  6. ^ Nevitt, Allyn D. (1997). CombinedFleet.com “IJN Oboro: Tabular Record of Movement”. Long Lancers. Combinedfleet.com. 
  7. ^ D’Albas. Death of a Navy: Japanese Naval Action in World War II.
  8. ^ Brown. Warship Losses of World War II

Thư mục[sửa | sửa mã nguồn]

  • D'Albas, Andrieu (1965). Death of a Navy: Japanese Naval Action in World War II. Devin-Adair Pub. ISBN 0-8159-5302-X. 
  • Brown, David (1990). Warship Losses of World War Two. Naval Institute Press. ISBN 1-55750-914-X. 
  • Howarth, Stephen (1983). The Fighting Ships of the Rising Sun: The Drama of the Imperial Japanese Navy, 1895–1945. Atheneum. ISBN 0-689-11402-8. 
  • Jentsura, Hansgeorg (1976). Warships of the Imperial Japanese Navy, 1869–1945. US Naval Institute Press. ISBN 0-87021-893-X. 
  • Watts, Anthony J (1967). Japanese Warships of World War II. Doubleday. ASIN B000KEV3J8. 
  • Whitley, M J (2000). Destroyers of World War Two: An International Encyclopedia. London: Arms and Armour Press. ISBN 1-85409-521-8. 

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]