Asagiri (tàu khu trục Nhật) (1929)

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Asagiri II.jpg
Tàu khu trục Asagiri trên đường đi, ngày 29 tháng 3 năm 1936
Phục vụ (Nhật Bản) Naval Ensign of Japan.svg
Tên gọi: Asagiri
Đặt hàng: Năm tài chính 1923
Hãng đóng tàu: Xưởng hải quân Sasebo
Số hiệu xưởng đóng tàu: Tàu khu trục số 47
Đặt lườn: 12 tháng 12 năm 1928
Hạ thủy: 18 tháng 11 năm 1929
Nhập biên chế: 30 tháng 6 năm 1930
Xóa đăng bạ: 1 tháng 10 năm 1942
Số phận: Bị không kích đánh chìm gần đảo Savo, 28 tháng 8 năm 1942
Đặc điểm khái quát
Lớp và kiểu: Lớp tàu khu trục Fubuki[1]
Trọng tải choán nước: 1.750 tấn (tiêu chuẩn)
2.050 tấn (tái tạo)
Độ dài: 115,3 m (378 ft) (mực nước)
118,4 m (388 ft 6 in) (chung)
Sườn ngang: 10,4 m (34 ft 1 in)
Mớn nước: 3,2 m (10 ft 6 in)
Động cơ đẩy: 2 × turbine hộp số Kampon
4 × nồi hơi
2 × trục
công suất 50.000 mã lực (37,3 MW)
Tốc độ: 70 km/h (38 knot)
Tầm xa: 9.200 km ở tốc độ 26 km/h (5,000 hải lý ở tốc độ 14 knot)
Thủy thủ đoàn
đầy đủ:
219
Vũ trang: 6 × hải pháo 127 mm (5 inch)/50 caliber Kiểu 3 (3×2)
2 × súng máy 13 mm Kiểu 93 (2×1)
9 × ống phóng ngư lôi 610 mm (24 inch) (3×3)
18 × ngư lôi Kiểu 91
18 × mìn sâu

Asagiri (tiếng Nhật: 朝霧) là một tàu khu trục hạng nhất của Hải quân Đế quốc Nhật Bản, thuộc lớp Fubuki bao gồm hai mươi bốn chiếc, được chế tạo sau khi Chiến tranh Thế giới thứ nhất kết thúc. Khi được đưa vào hoạt động, những con tàu này là những tàu khu trục mạnh mẽ nhất thế giới.[2] Chúng phục vụ như những tàu khu trục hàng đầu trong những năm 1930, và tiếp tục là những vũ khí lợi hại trong cuộc Chiến tranh Thái Bình Dương. Asagiri từng tham gia nhiều hoạt động trong những năm đầu tiên của chiến tranh, và đã bị máy bay của lực lượng Thủy quân Lục chiến Mỹ xuất phát từ Guadalcanal đánh chìm gần đảo Savo vào ngày 28 tháng 8 năm 1942 trong Chiến tranh Thế giới thứ hai.

Thiết kế và chế tạo[sửa | sửa mã nguồn]

Việc chế tạo lớp tàu khu trục Fubuki tiên tiến được chấp thuận vào năm tài chính 1923 như một phần của chương trình có tham vọng cung cấp cho Hải quân Đế quốc Nhật Bản một ưu thế về chất lượng so với những tàu chiến hiện đại nhất của thế giới.[3] Khả năng thể hiện của lớp Fubuki là một bước nhảy vọt so với các thiết kế tàu khu trục trước đó, nên chúng được gọi là các “tàu khu trục đặc biệt” (tiếng Nhật: 特型 - Tokugata). Kích thước lớn, động cơ mạnh mẽ, tốc độ cao, bán kính hoạt động lớn và vũ khí trang bị mạnh chưa từng có khiến cho các tàu khu trục này có được hỏa lực tương đương nhiều tàu tuần dương hạng nhẹ của hải quân các nước khác.[4] Asagiri, được chế tạo tại xưởng hải quân Sasebo, là chiếc thứ ba của một loạt tàu được cải tiến, bao gồm kiểu tháp pháo có thể nâng các khẩu pháo chính 127 mm (5 inch)/50 caliber Kiểu 3 lên một góc 75° so với nguyên thủy 40°, cho phép sử dụng chúng như pháo lưỡng dụng có thể chống lại máy bay.[3]

Asagiri được đặt lườn vào ngày 12 tháng 12 năm 1928. Nó được hạ thủy vào ngày 18 tháng 11 năm 1929 và đưa ra hoạt động vào ngày 30 tháng 6 năm 1930.[5] Nguyên được dự định mang số hiệu đơn giản là "Tàu khu trục số 47", nó được hoàn tất dưới tên gọi Asagiri, theo tên một tàu khu trục tiền nhiệm thuộc lớp Harusame.

Lịch sử hoạt động[sửa | sửa mã nguồn]

Sau sự kiện Thượng Hải năm 1932, Asagiri được giao nhiệm vụ tuần tra trên sông Dương Tử. Vào năm 1935, sự cố đối với Hạm đội 4 Hải quân Đế quốc Nhật Bản, khi một số lớn tàu chiến bị hư hại bởi một cơn bão, đã khiến nó cùng với các tàu chị em phải nhanh chóng được cho quay trở lại ụ tàu để gia cường thêm lườn tàu và tăng thêm trọng lượng rẽ nước. Từ năm 1937, Asagiri hỗ trợ cho các cuộc đổ bộ lực lượng Nhật Bản lên Thượng HảiHàng Châu. Từ năm 1940, nó được phân công tuần tra dọc theo bờ biển và hỗ trợ cho việc đổ bộ lên miền Nam Trung Quốc, và sau đó là việc chiếm đóng Đông Dương thuộc Pháp.

Vào lúc xảy ra cuộc tấn công Trân Châu Cảng, Asagiri được phân về Hải đội Khu trục 20 thuộc Đội khu trục 3 của Hạm đội 1 Hải quân Đế quốc Nhật Bản, và được bố trí từ Quân khu Hải quân Kure đến cảng Samah trên đảo Hải Nam để hỗ trợ cho các chiến dịch đổ bộ lực lượng Nhật Bản lên Malaya. Ngày 27 tháng 1 năm 1942, Asagiri và đoàn tàu vận tải của nó bị HMS ThanetHMAS Vampire tấn công ở cách 148 km (80 hải lý) về phía Bắc Singapore trong trận chiến ngoài khơi Endau; ngư lôi của nó đã giúp vào việc đánh chìm Thanet.[6][7]

Sau đó Asagiri nằm trong thành phần hộ tống cho các tàu tuần dương hạng nặng Suzuya, Kumano, MogamiMikuma để hỗ trợ cho các hoạt động đổ bộ lên Banka-Palembangquần đảo Anambas. Vào cuối tháng 2, Asagiri hỗ trợ cho các hoạt động quét mìn chung quanh Singapore và Johore.

Trong tháng 3, Asagiri tham gia vào lực lượng chiếm đóng phía Bắc Sumatra vào ngày 12 tháng 3 và chiếm đóng quần đảo Andaman vào ngày 23 tháng 3. Trong cuộc không kích Ấn Độ Dương, cùng với các tàu tuần dương ChōkaiYura cùng tàu sân bay Ryūjō, Asagiri được ghi nhận đã tham gia đánh chìm sáu tàu buôn. Từ ngày 13 đến ngày 22 tháng 4, nó đi ngang qua Singapore và vịnh Cam Ranh quay trở về Xưởng hải quân Kure để bảo trì.[8]

Trong thời gian diễn ra trận Midway, Asagiri tham gia lực lượng chiếm đóng quần đảo Aleut. Đến tháng 7 năm 1942, Asagiri lên đường từ Amami-Oshima đến quân khu bảo vệ Mako, Singapore, SabangMergui nhằm chuẩn bị cho một cuộc không kích Ấn Độ Dương thứ hai. Kế hoạch này bị hủy bỏ do việc lực lượng Đồng Minh đổ bộ lên Guadalcanal, và Asagiri được gửi đến Truk, và đến nơi vào cuối tháng 8.

Sau trận chiến Đông Solomon vào ngày 24 tháng 8, Asagiri nhận lên tàu binh lính từ các tàu vận tải đang khi ngoài biển, và hướng đến Guadalcanal. Trong hoạt động này, nó trúng phải một quả bom ném từ một máy bay ném bom bổ nhào SBD Dauntless của Thủy quân Lục chiến Mỹ cất cánh từ sân bay Henderson tại Guadalcanal. Quả bom đánh trúng ống phóng ngư lôi của nó đã gây ra một vụ nổ làm thiệt mạng 122 người, bao gồm 60 binh lính vận chuyển. ‘‘Asagiri’’ bị chìm gần đảo Santa Isabel, cách 110 km (60 hải lý) về phía Đông Bắc đảo Savo, ở tọa độ 08°0′N 160°10′Đ / 8°N 160,167°Đ / -8.000; 160.167Tọa độ: 08°0′N 160°10′Đ / 8°N 160,167°Đ / -8.000; 160.167.[9][10]

Vào ngày 1 tháng 10 năm 1942, Asagiri được rút khỏi danh sách Đăng bạ Hải quân.[5]

Danh sách thuyền trưởng[sửa | sửa mã nguồn]

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Các đặc tính lấy từ: Fitzsimons, Bernard, ed. Illustrated Encyclopedia of 20th Century Weapons and Warfare (London: Phoebus, 1978), Volume 10, trang 1040-1041, "Fubuki".
  2. ^ Globalsecurity.org. “IJN Fubuki class destroyers”. 
  3. ^ a ă F Fitzsimons, Illustrated Encyclopedia of 20th Century Weapons and Warfare (London: Phoebus, 1977), Volume 10, trang 1040.
  4. ^ Peattie & Evans, Kaigun, trang 221-222.
  5. ^ a ă Nishidah, Hiroshi (2002). “Fubuki class 1st class destroyers”. Materials of the Imperial Japanese Navy. 
  6. ^ Muir, Dan Order of Battle - The Battle of the Sunda Strait 1942
  7. ^ Brown. Warship Losses of World War II
  8. ^ Nevitt, Allyn D. (1997). CombinedFleet.com “IJN Asagiri: Tabular Record of Movement”. Long Lancers. Combinedfleet.com. 
  9. ^ Hammel. Guadalcanal: Decision at Sea.
  10. ^ D’Albas. Death of a Navy: Japanese Naval Action in World War II.

Thư mục[sửa | sửa mã nguồn]

  • D'Albas, Andrieu (1965). Death of a Navy: Japanese Naval Action in World War II. Devin-Adair Pub. ISBN 0-8159-5302-X. 
  • Brown, David (1990). Warship Losses of World War Two. Naval Institute Press. ISBN 1-55750-914-X. 
  • Howarth, Stephen (1983). The Fighting Ships of the Rising Sun: The Drama of the Imperial Japanese Navy, 1895–1945. Atheneum. ISBN 0-689-11402-8. 
  • Jentsura, Hansgeorg (1976). Warships of the Imperial Japanese Navy, 1869–1945. US Naval Institute Press. ISBN 0-87021-893-X. 
  • Hammel, Eric (1988). Guadalcanal: Decision at Sea : The Naval Battle of Guadalcanal, Nov. 13–15, 1942. California: Pacifica Press. ISBN 0-517-56952-3. 
  • Watts, Anthony J (1967). Japanese Warships of World War II. Doubleday. ASIN B000KEV3J8. 
  • Whitley, M J (2000). Destroyers of World War Two: An International Encyclopedia. London: Arms and Armour Press. ISBN 1-85409-521-8. 

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]