Sự phục sinh của Chúa Giêsu

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Chúa Giêsu
SermonOnTheMountcropped.jpg

Theo luận giải của giáo lý Ba Ngôi trong Tân Ước, Chúa Giê-su là Thiên Chúa và là người, do đó ngài có quyền năng có thể phó mạng sống mình để cứu nhân loại cũng như phục hồi sự sống ấy;[1] vì vậy, sau khi chịu khổ nạn và chết, ngài đã sống lại. Sự kiện này được đề cập trong thuật ngữ Cơ Đốc giáoSự phục sinh của Chúa Giê-su, trở thành ngày lễ tôn giáo quan trọng được hầu hết tín hữu Cơ Đốc cử hành hằng năm vào Chủ nhật Phục sinh.

Hầu hết tín hữu Cơ Đốc đều chấp nhận những ký thuật của Tân Ước về sự sống lại của Chúa Giê-su là dữ kiện lịch sử và là trọng tâm của đức tin. Tuy nhiên, người ngoài Cơ Đốc giáo thường xem sự kiện này như là một huyền thoại hoặc tìm cách giải thích theo cách ẩn dụ.

Ký thuật[sửa | sửa mã nguồn]

Tân Ước[sửa | sửa mã nguồn]

Mặc dù diễn biến khi Chúa Giê-su phục sinh không được ký thuật trong Kinh Thánh), nhiều họa sĩ miêu tả quang cảnh này, như họa phẩm của Matthias Grünewald

Những ký thuật về sự phục sinh của Chúa Giê-su được tìm thấy trong những chương cuối của các sách Phúc âm: Matthew 28, Mark 16, Luca 24 và Giăng 21.

Các sách Phúc âm này đều ký thuật rằng Chúa Giê-su bị đóng đinh trên thập tự giá vào chiều thứ Sáu - nay thường được gọi là Lễ Thương Khó (Tin Lành) hoặc Thứ Sáu Tuần Thánh (Công giáo) - thi hài của ngài được bọc trong vải liệm trắng rồi mai táng trong ngôi mộ mới mà Joseph người Arimathea đã cho đục trong đá cho ông.[2] Sau thứ Bảy (Sabbath - ngày nghỉ của người Do Thái), vào sáng sớm ngày thứ nhất trong tuần lễ (Chúa nhật), vài người phụ nữ là môn đồ của Chúa Giê-su trở lại ngôi mộ để hoàn tất nghi thức an táng. Khi đến nơi, họ nhận thấy ngôi mộ trống không, sau đó họ trở lại với sự tháp tùng của vài môn đồ nam giới.

Về sau, Chúa Giê-su xuất hiện nhiều lần để gặp gỡ các môn đồ, đáng chú ý nhất là khi ngài đến với họ tại phòng cao, ở đó Thomas không chịu tin ngài cho đến khi Chúa Giê-su bảo ông chạm vào dấu đinh trên tay và dấu đâm trên hông của ngài (Giăng 20:24-29). Chúa Giê-su cũng đến cùng hai môn đồ đang khi họ trên đường đến thành Em-mau, bàn tán với nhau về nỗi thất vọng vì đấng Messiah nay đã bị giết bởi tay loài người, trước khi họ nhận ra ngài (Luca 24.13-32); ngài đến gặp các môn đồ bên bờ Biển Galilee để khích lệ Peter vững tâm mà giúp đỡ các môn đồ khác (John 21.1-23). Lần chót Chúa Giê-su hiện ra với các môn đồ là bốn mươi ngày sau khi sống lại, rồi ngài lên trời (Luca 24.44-49).

Cả Peter (Phêrô hoặc Phi-e-rơ)[3]Phao Lô [4] đều luận giải rằng sự kiện này là hòn đá tảng cho Cơ Đốc giáo. Sự kiện phục sinh của Chúa Giê-su đều được đề cập trong hầu hết các sách của Tân Ước.

Khi so sánh những văn kiện về sự phục sinh, một số người tìm thấy những chi tiết khác nhau và họ cho rằng không thể dung nạp chúng vào một câu chuyện đồng nhất, mặc dù John Wenham và các học giả khác giải thích rằng các chi tiết này là bổ sung cho nhau. Cũng vậy, theo quan điểm của nhiều tín hữu Cơ Đốc, không có gì khó hiểu khi nhiều người cùng chứng kiến một sự kiện, họ sẽ thuật lại sự kiện ấy với những chi tiết khác nhau vì nhìn từ những góc độ khác nhau.

Những ký thuật Cơ Đốc khác[sửa | sửa mã nguồn]

Sớm có một số văn kiện khác ngoài Tân Ước được tìm thấy trong các trước tác của Ignatius (50-115), Polycarp (69-155), Justin Martyr (100-165), Tertullian (160-220), và trong thư tín đầu tiên của Clement.

Nhiều đoạn Ignatius đề cập đến sự kiện phục sinh nay không còn, nhưng hai bài tranh luận dài của ông được tìm thấy trong Thư gởi người Trallian,

Vì vậy, đừng nghe bất cứ ai nói điều gì khác về Chúa Giê-su Cơ Đốc, ngài là hậu duệ của vua David, là con của Mary; ngài thật sự được sinh ra, ăn và uống. Ngài thật bị bách hại bởi Pontius Pilate; Ngài thật bị đóng đinh và chết, với sự chứng kiến của các thực thể trên trời, dưới đất và bên dưới đất. Ngài thật sự phục sinh từ kẻ chết, Cha ngài đã khiến ngài sống lại, như cách mà Cha ngài sẽ phục sinh những người tin ngài qua Chúa Giê-su Cơ Đốc, phân rẽ họ khỏi những người không có sự sống thật.

và trong Thư gởi người Smyrna,

Ngài chịu đựng tất cả điều này vì cớ chúng ta, để chúng ta được cứu rỗi. Ngài thật sự chịu đau đớn, ngay cả khi ngài đã sống lại; không phải như những kẻ chẳng tin nói rằng ngài chỉ giả vờ mà thôi.

Tất cả các bản tín điều quan trọng đều đề cập đến sự phục sinh, Tín điều Nicea (năm 325) xác quyết rằng "Đến ngày thứ ba ngài sống lại".

Những ký thuật ngoài Cơ Đốc giáo[sửa | sửa mã nguồn]

Flavius Josephus (c.37 – c.100), một công dân La Mã gốc Do Thái, dưới sự bảo trợ của Flavians, viết quyển Antiquitates Judaicae (Cổ sử Do Thái) khoảng năm 93. Trong tác phẩm này có một đoạn gọi là Testimonium Flavianum đề cập đến sự chết và phục sinh của Giê-su: "Khi Pilate, theo cáo buộc của những người lãnh đạo chúng ta, kết án [Giê-su] đóng đinh trên thập tự giá, những kẻ yêu thương người ấy không chịu từ bỏ người, vì người hiện ra cùng họ trong ngày thứ ba, sống lại, như các tiên tri đã báo trước, cùng với nhiều điều kỳ lạ liên quan đến người."[5] Nhiều học giả cho rằng Testimonium Flavianum chỉ là phần thêm vào, song cũng có các học giả khác tin vào tính chính xác của văn bản.[6]

Tacitus, một sử gia La Mã, nhắc đến sự hiện hữu của "Christus", bị xử tử bởi Pontius Pilate, nhưng không đề cập đến sự phục sinh.

Khám phá ngôi mộ trống[sửa | sửa mã nguồn]

Phụ nữ[sửa | sửa mã nguồn]

Cả bốn sách phúc âm đều ghi nhận sự kiện các phụ nữ là những người phát hiện nơi mai táng Chúa Giê-su chỉ còn là ngôi mộ trống. Theo Phúc âm Máccô và Lu-ca, họ là những người đầu tiên loan báo tin Chúa phục sinh. Còn theo Phúc âm Mátthêu và John, những người đầu tiên nhìn thấy Chúa sau khi sống lại là các phụ nữ (trong Phúc Âm Gioan, chỉ một mình Mary Magdalene).

Hai môn đồ vào ngôi mộ trống,
tranh của William Hole

Trong các sách phúc âm, nhất là trong các sách phúc âm nhất lãm, phụ nữ thủ giữ vai trò trung tâm như là những người kề cận bên Chúa Giê-su và chứng kiến sự chết, mai táng và khám phá ngôi mộ trống. Ba sách phúc âm nhất lãm nhiều lần thuật lại rằng những phụ nữ này đã chứng kiến tận mắt,[7] và xem họ là những nhân chứng đáng tin.[8]

Sự hiện diện của những người phụ nữ này trong tư cách là các nhân chứng khám phá ngôi mộ trống được xem là làm gia tăng tính khả tín của lời chứng, bởi vì, trong bối cảnh văn hóa thời ấy (Do TháiHy-La), sự nghi ngờ thường dành cho nam giới, nhất là những người quan trọng, hơn là "những phụ nữ đang đau buồn."[9] C. H. Dodd xem câu chuyện phục sinh được ghi lại trong Phúc Âm Gioan là đáng tin vì không ai nghĩ đến chuyện Chúa Giê-su lại hiện ra cho "một người đàn bà nhỏ bé vô danh" như Mary Magdalene.[10]

Nam giới[sửa | sửa mã nguồn]

Theo ký thuật của Phúc âm Lu-ca, khi nghe những người phụ nữ thuật lại những gì họ thấy về ngôi mộ trống, "các sứ đồ không tin, cho lời ấy như là hư không".[11] Sau khi Peter đến mộ, "chỉ thấy vải liệm ở trên đất" thì "lạ lùng cho việc đã xảy ra".[12] Phúc âm John thuật lại với nhiều chi tiết hơn, khi đến mộ, môn đồ được Chúa yêu chỉ đứng nhìn nhưng không vào. Peter vào, xem xét cẩn thận các chi tiết trong mộ, khi ấy môn đồ kia cũng bước vào, "nhìn thấy và tin".[13]

Ý nghĩa của sự phục sinh[sửa | sửa mã nguồn]

Từ lúc hội thánh còn sơ khai, Sứ đồ Phao-lô đã xác quyết, "Nếu Chúa Cơ Đốc đã chẳng sống lại, thì sự giảng dạy của chúng tôi ra luống công, và đức tin anh em cũng vô ích."[14] Sự chết và phục sinh của Chúa Giê-su là hai sự kiện quan trọng nhất trong lịch sử và thần học Cơ Đốc giáo. Đây là chứng cứ khẳng định quyền bính của Chúa Giê-su trên sự sống và sự chết, do đó ngài có quyền ban cho con dân ngài sự sống vĩnh cửu.[15][16][17][18] Theo ký thuật của Kinh Thánh, Thiên Chúa đã khiến ngài sống lại từ kẻ chết,[19] ngài lên trời, ngự bên hữu Thiên Chúa,[20][21][22][23] và sẽ trở lại[24] để làm ứng nghiệm lời tiên tri về Đấng Messiah, cũng như về sự sống lại của kẻ chết, sự phán xét sau cùng, và sự thiết lập Vương quốc Thiên Chúa. Phao-lô viết trong thư gởi tín hữu hội thánh Corinth,

Vả, nếu giảng dạy rằng Chúa Cơ Đốc đã từ kẻ chết sống lại, thì sao trong anh em có kẻ nói rằng những kẻ chết chẳng sống lại? Nếu những kẻ chết chẳng sống lại, thì Chúa Cơ Đốc cũng đã chẳng sống lại nữa. Lại nếu Chúa Cơ Đốc đã chẳng sống lại, thì sự giảng dạy của chúng tôi ra luống công, và đức tin anh em cũng vô ích. Lại nếu kẻ chết quả thật không sống lại, thì Thiên Chúa đã chẳng khiến Chúa Cơ Đốc sống lại, mà chúng tôi đã làm chứng trái với Thiên Chúa rằng Ngài đã làm cho Chúa Cơ Đốc sống lại, hóa ra chúng tôi làm chứng dối cho Thiên Chúa. Vì nếu kẻ chết sẽ chẳng sống lại, thì Chúa Cơ Đốc cũng đã chẳng sống lại nữa. Và nếu Chúa Cơ Đốc đã chẳng sống lại, thì đức tin anh em cũng vô ích, anh em còn ở trong tội lỗi mình. Vậy, những kẻ ngủ trong Chúa Cơ Đốc cũng phải hư mất đời đời. Nếu chúng ta chỉ có sự trông cậy trong Chúa Cơ Đốc về đời này mà thôi, thì trong cả mọi người, chúng ta là kẻ khốn nạn hơn hết. Nhưng bây giờ, Chúa Cơ Đốc đã từ kẻ chết sống lại, Ngài là trái đầu mùa của những kẻ ngủ...Chúa Cơ Đốc là trái đầu mùa; rồi tới ngày Chúa Cơ Đốc đến, những kẻ thuộc về Ngài sẽ sống lại.[25]

Hầu hết tín hữu Cơ Đốc xem câu chuyện phục sinh được ký thuật trong Tân Ước là dữ kiện lịch sử, và là trọng tâm của đức tin. Một số học giả cho rằng chính nhờ xác quyết vào sự sống lại của Chúa Giê-su mà các môn đệ của ngài đã dạn dĩ đi ra rao giảng phúc âm và thành lập hội thánh.[26]

Trong Bữa ăn tối tại Em-mau, Caravaggio miêu tả thời khắc các môn đồ nhận ra Chúa Giê-su vừa phục sinh

Trong khi Chủ nhật Phục sinh là ngày lễ lớn được cử hành để kỷ niệm sự sống lại của Chúa Giê-su, Hoàng đế Constantine I công bố ngày nhóm lại hằng tuần của hội thánh không còn là thứ Bảy (ngày Sabbath), mà là Chủ nhật, như thế mỗi tuần hội thánh đều nhóm lại để kỷ niệm sự phục sinh của Chúa Giê-su. Cũng nên biết, ngay trong thời kỳ hội thánh sơ khai, các môn đồ đã bắt đầu nhóm lại vào ngày Chủ nhật.

Công giáo Rôma[sửa | sửa mã nguồn]

Quan điểm Công giáo cho rằng Chúa Giê-su tự nguyện hiến mình như là một hành động tuân phục trọn vẹn để đền tội cho sự bất tuân của Adam, do đó ngài tẩy sạch nhân loại khỏi vết ố của nguyên tội (tội tổ tông). Sự hiến tế của Chúa Giê-su là hành động của tình yêu làm vui lòng Thiên Chúa, là lớn hơn tội lỗi loài người đã xúc phạm Thiên Chúa, vì vậy hễ ai tin Chúa Giê-su và tuân giữ mạng lịnh của ngài sẽ nhận lãnh sự cứu chuộc trong danh ngài.

Tín hữu Công giáo tin rằng một người có thể bị vuột mất ân điển nếu tiếp tục phạm tội sau khi được cứu rỗi. Một người có thể được phục hồi vào ân điển qua thánh lễ ăn năn và hoà giải (xưng tội).

Kháng Cách[sửa | sửa mã nguồn]

Trong khi đó, quan điểm của Martin Luther về ý nghĩa của sự phục sinh của Chúa Giê-su, thường được gọi là Luận điểm Pháp chế, được chấp nhận bởi đa số tín hữu Kháng Cách (Protestant), là một trong những nguyên nhân dẫn đến cuộc Cải cách Kháng Cách.

Giáo thuyết này nhấn mạnh rằng Thiên Chúa là Đấng Phán xét. Con người đã phạm tội, và vì vậy, theo sự công bình của Thiên Chúa, Ngài phải đoán phạt con người. Nhưng Thiên Chúa cũng là Đấng yêu thương, nên giải pháp được chọn, thoả mãn cả đức công bình lẫn đức yêu thương của Thiên Chúa, là sai Con Ngài, tức là Chúa Giê-su, Đấng hoàn toàn vô tội, đến để gánh thay tội lỗi của thế gian trên vai Ngài, hầu cho hễ ai chấp nhận món quà hiến tế này của Chúa Giê-su đều được giải thoát khỏi xiềng xích của tội lỗi.

Như thế, qua sự chết của Chúa Giê-su Cơ Đốc, thời kỳ Cựu Ước đã qua đi và mọi sự trở nên mới. Bức màn phân cách giữa Thiên Chúa và con người đã bị xé toang, con người được tự do tìm kiếm sự cứu chuộc cho mình qua Đấng Trung bảo duy nhất là Chúa Giê-su Cơ Đốc mà không còn phải tìm kiếm sự cứu rỗi qua thánh lễ, qui tắc, hoặc qua hàng giáo phẩm đặc quyền. Những người ủng hộ quan điểm này tin rằng chỉ có tấm lòng chấp nhận sự hy sinh của Chúa Giê-su Cơ Đốc là điều kiện cần thiết để được cứu rỗi, không phải nghi thức hoặc thánh lễ.

Quan điểm này về sự phục sinh của Chúa Giê-su phù hợp với Đại lễ chuộc tội của người Do Thái theo luật pháp Moses, trong ngày ấy, người Do Thái chọn một con dê đực không tì vít để thầy tế lễ thượng phẩm đặt tay trên con dê đực còn sống, "xưng trên nó các gian ác và sự vi phạm, tức là những tội lỗi của dân Israel, và chất trên đầu nó, rồi nhờ một người chực sẵn việc này mà sai đuổi nó ra, thả vào đồng vắng. Vậy, con dê đực đó sẽ gánh trên mình các tội ác của dân Israel nơi hoang địa" (Lê vi ký 16:21-22).

Christus Victor[sửa | sửa mã nguồn]

Quan điểm Christus Victor (Chúa Cơ Đốc Đấng chiến thắng), phổ biến trong cộng đồng Chính Thống giáo Đông phương, tin rằng Chúa Giê-su được sai đến để đánh bại sự chết và Satan. Bởi sự chết tự nguyện và trọn vẹn, cùng sự phục sinh của Chúa Giê-su mà ngài đánh bại Satan và sự chết, rồi phục sinh trong chiến thắng. Nhờ đó, nhân loại không còn bị ràng buộc trong tội lỗi, nhưng được tự do phục hoà với Thiên Chúa bởi đức tin vào Chúa Giê-su.

Trái với quan điểm pháp chế, thuyết Christus Victor nhấn mạnh đến trận chiến tâm linh giữa thiện và ác. Trong khi thuyết pháp chế luận giải rằng Thiên Chúa đoán phạt Chúa Giê-su vì tội lỗi của nhân loại thì thuyết Christus Victor nhìn thấy loài người, từng bị cầm giữ trong quyền lực của Satan, nay quyền lực này bị Chúa Giê-su đánh bại; như thế, Thiên Chúa, qua Chúa Giê-su, đã phá vỡ xiềng xích của Satan.

Tự do[sửa | sửa mã nguồn]

Nhà thờ Mộ thánh. Người ta tin là Chúa Giê-su được chôn cất ở đây.

Tín hữu Cơ Đốc theo khuynh hướng tự do xem sự kiện phục sinh không gì khác hơn là một biểu tượng tôn giáo về niềm hi vọng, họ chấp nhận sự kiện này như là một huyền thoại có tính biểu trưng cao và có tác dụng nuôi dưỡng tâm linh. Sự kiện phục sinh không phải là một vấn đề lịch sử nhưng là một thái độ tôn giáo. Những người theo khuynh hướng này bác bỏ luận điểm cho rằng Chúa Giê-su đã thật sự sống lại trong thể xác.

Hoài nghi[sửa | sửa mã nguồn]

Hầu hết người bên ngoài Cơ Đốc giáo không chấp nhận việc Chúa Giê-su thật sự sống lại trong thân xác. Do đó, họ xem sự kiện này như một huyền thoại, hoặc đồng tình với quan điểm tự do để xem nó như một huyền thoại có sức mạnh hỗ trợ cho lòng sùng tín.

Các giả thuyết[sửa | sửa mã nguồn]

Có những giả thuyết được đưa ra nhằm giải thích sự kiện phục sinh theo quan điểm của các nhóm khác nhau:

  • Các môn đồ trộm xác của Chúa Giê-su khỏi mộ rồi dựng nên câu chuyện phục sinh.
  • Chúa Giê-su chỉ bị ngất đi vì kiệt sức khi bị đóng đinh trên thập tự giá, cũng có thể ngài bị đánh thuốc, sau đó ngài hồi tỉnh trong phần mộ.
  • Không phải là sự sống lại trong thể xác mà chỉ là một sự hiện thấy đối với các môn đồ, hoặc là một sự hiện thấy siêu nhiên, cũng có thể chỉ là ảo giác.
  • Quan điểm của người Do Thái thể hiện trong Toledoth Yeshu cho rằng xác của Chúa Giê-su bị dời đi ngay trong đêm ngài bị đóng đinh.
  • Theo kinh Qur’an của Hồi giáo thì Chúa Giê-su không bị đóng đinh, một người khác giống Chúa Giê-su đã chết thay cho ngài (Sura 4.156).
  • Thứ kinh Phúc âm của Barnabas cho rằng Chúa Giê-su không bị đóng đinh, Judas đã thế chỗ của ngài.
  • Theo một số tài liệu công bố bởi sử gia Nga Nicolai Notovitch, sau khi phục sinh, Chúa Giê-su sống trọn cuộc đời mình tại Kashmir, ở đó có lẽ có phần mộ của Chúa Giê-su được đặt tên Yuz Asaf.
  • Theo suy diễn của một số người, ký thuật của Tân Ước chưa hoàn tất, họ cho rằng sau đó Chúa Giê-su kết hôn, có con và cùng vợ đến sống ở miền Nam nước Pháp hoặc tại Glastonbury, Anh Quốc. Những giả thuyết này dấy lên từ tác phẩm Holy Blood, Holy Grail (Huyết thánh, Chén thánh), tin rằng các đời vua triều đại Moravech là hậu duệ của Chúa Giê-su.

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ "Chẳng có ai cất sự sống ta đi, nhưng tự ta phó cho; ta có quyền phó sự sống, và có quyền lấy lại" - Giăng 10. 18
  2. ^ Phúc âm Matthew 27: 59-60
  3. ^ "Chúa Giê-su này, Thiên Chúa đã khiến sống lại, và chúng ta thảy đều làm chứng về sự đó" -Công vụ 2.32
  4. ^ "Nếu chúng ta chỉ có sự trông cậy trong Chúa Cơ Đốc về đời này mà thôi, thì trong cả mọi người, chúng ta là kẻ khốn nạn hơn hết" - 1Corinthians 15.19
  5. ^ Josephus Antiquities 18.3.3
  6. ^ Daniel-Rops, Silence of Jesus' Contemporaries p. 21.
  7. ^ Richard Bauckham, Jesus and the Eyewitnesses (Eerdmans Publishing Company: Cambridge, 2006), p. 48.
  8. ^ B. Gerhardsson, 'Mark and the Female Witnesses', in H. Behrens, D. Loding, and M. T. Roth, eds., Dumu-E2-Dub-Ba-A (A. W. Sjöberg FS; Occasional Papers of the Samuel Noah Kramer Fund 11; Philadelphia: The University Museum, 1989), pp. 219–220, 222–223; S. Byrskog, Story as History—History as Story (Wissenschaftliche Untersuchungen zum Neuen Testament Jerusalem Talmud 123; Tübingen: Mohr, 2000; remprinted Leiden: Brill, 2002), pp. 75–78; Richard Bauckham, Jesus and the Eyewitnesses (Eerdmans Publishing Company: Cambridge, 2006), p. 48.
  9. ^ Ben Witherington III, What have they done with Jesus (San Francisco: Harper Collins, 2006), p. 50.
  10. ^ C. H. Dodd, The Interpretation of the Fourth Gospel (Cambridge: Cambridge University Press, 1953)
  11. ^ Phúc âm Lu-ca 24: 11
  12. ^ Phúc âm Lu-ca 24: 12
  13. ^ Phúc âm Giăng 20: 3-8
  14. ^ 1Corinthians 15: 14
  15. ^ "Vì Thiên Chúa yêu thương thế gian, đến nỗi đã ban Con một của Ngài, hầu cho hễ ai tin Con ấy không bị hư mất mà được sự sống đời đời" – Phúc âm Giăng 3: 16
  16. ^ "Quả thật, quả thật, ta nói cùng các ngươi, hễ ai tin ta thì được sự sống đời đời." – Phúc âm Giăng 6: 47
  17. ^ "Ta đã đến, hầu cho chiên được sự sống, và được sự sống viên mãn." – Phúc âm Giăng 10: 10
  18. ^ "Vả, sự sống đời đời là nhìn biết Cha, tức là Thiên Chúa có một và thật, cùng Giê-su Cơ Đốc, là Đấng Cha sai đến." - Phúc âm Giăng 17: 3
  19. ^ "Nhưng Thiên Chúa đã khiến Người sống lại, bứt đứt dây trói của sự chết, vì nó không thể giữ Người lại dưới quyền nó." – Công vụ các Sứ đồ 2: 24
  20. ^ "[Thiên Chúa] khiến Chúa Cơ Đốc từ kẻ chết sống lại và làm cho ngồi bên hữu mình tại các nơi trên trời." – Ephesians 1: 20
  21. ^ "Con là sự chói sáng của sự vinh hiển Thiên Chúa và hình bóng của bổn thể Ngài, lấy lời có quyền phép Ngài nâng đỡ muôn vật; sau khi Con làm xong sự sạch tội bèn ngồi bên hữu Đấng tôn nghiêm ở trong nơi rất cao." – Hebrew 1: 3
  22. ^ "Chúa Giê-su là cội rễ và cuối cùng của đức tin, tức là Đấng vì sự vui mừng đã đặt trước mặt mình, chịu lấy thập tự giá, khinh điều sỉ nhục, và hiện nay ngồi bên hữu ngai Thiên Chúa." – Hebrew 12: 2
  23. ^ "Ấy là Đấng đã được lên trời, nay ngự bên hữu Thiên Chúa, các thiên sứ, các vương hầu, các quyền thế thảy đều phục Ngài." – 1Peter 3: 22
  24. ^ "Giê-su này đã được cất lên trời khỏi giữa các ngươi, cũng sẽ trở lại như cách các ngươi đã thấy Ngài lên trời vậy." – Công vụ các Sứ đồ 1: 11
  25. ^ 1Corinthians 15: 12-20; 23
  26. ^ Reginald H. Fuller, The Foundations of New Testament Christology (New York: Scribners, 1965), p. 11.

Sách tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

Cổ văn[sửa | sửa mã nguồn]

Những nhà biện giáo đương đại[sửa | sửa mã nguồn]

Hoài nghi[sửa | sửa mã nguồn]

Tranh luận[sửa | sửa mã nguồn]

  • Stewart, Robert B. The Resurrection of Jesus: John Dominic Crossan And N.T. Wright in Dialogue